nguyễnvănthiệu

Ông ngọai tôi trông ốm yếu, nho nhã mà ghê hồn. Không phải ghê hồn vì cường hào hay ác bá, mà vì ngọai có đến mười người con. Nghe kể lại, khi sanh đến dì mười, bà ngọai coi mòi kiệt sức, đã đau một trận tưởng sắp phải khăn gói theo ông theo bà rồi. Vừa gượng dậy được, ăn miếng cơm biết ngon, thì bà ngọai tôi lại bắt đầu tanh cá, mang bầu cậu Út. Mọi người nhìn bà cười cười thông cảm, để sau đó mấy dì tranh nhau bồng cậu nựng nịu, nói đớt và len lén đặt tên cho cậu tôi là Út Vét. Như muốn ca ngợi thành tích vét cạn láng rất vẻ vang dân Việt của ông ngọai chăng?

Cậu Út tôi thật thà, hiếu thảo nhưng hơi lười biếng. Cậu liếng khỉ nhưng hay thương người. Cậu Út hơi xí trai, mắt nhỏ nhưng không ti hí như mắt thái thú Tô Định trong sách sử ký. Cũng không phải mắt bồ câu, một con đậu một con bay. Mắt cậu tôi là mắt lá ớt– lọai ớt chim ỉa. Ớt chim ỉa cay xé mây. Mắt cậu hay cay cay như khỉ ăn nhằm ớt. Cậu hay mủi lòng và mau nước mắt như má tôi! Người ta thường nói con mắt lá râm đa tình lãng mạn. Hễ đa tình lãng mạn thì thường hay dòm ngó tứ tung, để thương thầm nhớ trộm, rồi buồn khổ mình ên. Trái lại người có cặp mắt lá ớt như cậu, khi yêu ai thì yêu đến trời gầm cũng không nhả!

Sau năm 75, trong lúc bạn bè cùng lứa lếch thếch ôm mền, vác chiếu vào trại cải tạo, cậu tôi vì là Ông đốc thú y nên tạm thời được ở lại thành phố để thiến heo và khám bịnh cho trâu bò. Thời buổi khó khăn, cậu Út đắt giá như món đồ cổ so với mấy món hàng chiến lược nón cối bày bán hà rầm ngòai chợ trời .

Thời kỳ nầy mấy cô thường hay quơ đại một tấm chồng cho có với người ta, sau những bàng hòang và hoang mang trước một tương lai không lấy gì làm sáng sủa. Chỉ cần một anh chàng có đôi mắt to to, bộ mặt dễ coi một chút là có ngay những nàng tiên hân hoan tình nguyện nâng khăn móc… túi. Đó là lý do tại sao nhiều cu cậu bất tài… hửu tướng, vừa ngớ ngẩn vừa chậm tiêu, đầu óc tối om như một gã mèo mù, vẫn vớ được những con cá chiên tỏi vàng rụm ngon ơ!

Cậu tôi, nhất định, không phải là mèo mù. Cậu tôi yêu dì Hạ. Yêu chí cốt chớ không yêu lơ tơ mơ. Đối với cậu, dì Hạ là người đẹp nhất trên cõi đời nầy. Họ đã có chung với nhau những kỷ niệm của thời ấu thơ, đã có hôn ước của người lớn từ hồi cậu Út còn bằng trái ớt hiểm!

Ông ngọai tôi là thầy thuốc Bắc danh tiếng ở quận Gò dầu, còn ba của dì Hạ (tôi cũng kêu bằng ông ngọai Năm) lại là chủ trại hòm lớn nhất nhì ở đó. Hai ông ngọai là bạn thân lâu năm với nhau. Hai gia đình nầy mà làm suôi thì phát đạt khỏi phải nói. Nếu ông ngọai tôi không được mát tay, thì có sẵn cái trại hòm của ông ngọai Năm chực chờ kế bên, rất tiện việc sổ sách cho thân chủ của ông tiêu diêu về miền cực… nhọc.

Dì Hạ lúc nhỏ rất được cưng chiều, tánh tình có hơi ngang bướng, tàng tàng, rất thiên… nhiên, chứ không hề khách… sạn. Dì thích mặc áo quần con trai, đi chơi với con trai, sẵn sàng quánh lộn tay đôi với bất cứ cu cậu  nào cà chớn. Dì thích đi chơi với cậu Út vì luôn được nhường nhịn và cậu còn biết nghĩ ra nhiều trò chơi để dì đổi món. Cậu Út đi đá banh, dì cũng hào hứng ôm banh chạy theo để mặt mày đỏ lơ đỏ lửng, xông xáo cùng cậu hò hét dưới cái nắng quỷ khóc thần sầu đất Tây… Ninh. Cậu trẹo giò khập khiễng, dì cũng sứt móng đi cà nhắc. Cậu rách da trán, dì cũng chảy máu mũi, nhưng vẫn cười hể hả khóai chí với nhau. Cậu rủ đi câu cá, dì cũng hí hửng, mau mắn vác cần câu liếng thoắng đi theo. Khi bước xuống mấy đám ruộng có đỉa, dì la oai óai, chỉ đòi ngồi trên lưng cho cậu cõng. Dì không sợ Trời, không sợ Đất nhưng sợ đỉa. Cậu tôi không sợ đỉa, không sợ rắn, nhưng sợ dì Hạ khóc, đành cõng dì suốt buổi đi câu. Cậu có than thở hoặc chọc quê, dì chỉ nhướng mắt cười chúm chím như ca sĩ bị trật nhịp. Tôi bỗng liên tưởng đến hình ảnh một thằng nhóc mười hai tuổi hân hoan cõng con nhỏ chín tuổi nghịch ngợm, cười hăng hắc, sao dễ thương gì đâu á!

Mà sao lạ! Mặt dì lúc nào cũng sáng trưng như trăng rằm tháng tám, học giỏi, dẫu có chút cao ngạo lẫn háo thắng, luôn coi những người cùng tuổi cùng lớp, như đám em út dưới cơ. Có lẽ, tại dì không dấu diếm cái ước vọng dễ thương, làm nữ Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam sau nầy, nên bọn nhóc cùng lớp sợ uy của dì còn hơn anh binh nhì ngán ông thiếu úy! Ba tôi nói đó là dấu hiệu hiếm quý của bậc thiên tài, lúc tinh anh còn chưa kịp phát tiết… canh. Má tôi hứ cái cóc buông miệng phán ngon ơ: thiên tài trong vương quốc Bà Chằng lửa thì có…

Trong phòng cậu tôi có treo tấm hình của dì lúc còn hai ba tuổi, mặt mày phụng phịu, hai bàn tay bụm chim như đang mắc tè, trông rất dễ thương. Dì đặt tên cho bức chân dung ưa thích, đầy nghệ thuật nầy là CHỊU CHƠI, khiến ai nhìn cũng cười bò lăn bò càng. Nhớ đến dì, là  nhớ đến cái ngôn ngữ đầy sáng tạo, rất riêng như vậy đó.

Lớn lên, dì Hạ trông đoan trang thùy mị hơn và thường hay thầm thì… thủ thỉ với dì Trân coi bộ rất tâm đầu ý hiệp. Dì Trân là em ruột thứ mười của má và là chị kế của cậu Út tôi. Dì Trân có tiệm thuốc tây, luôn luôn binh vực nền y học Âu Mỹ nên không tiêc lời mỉa mai đánh phá ngành Đông Y, dù đã được nuôi nấng bằng cao đơn huờn tán gia truyền của ông ngọai . Dì Trân đa tài, làm thơ giỏi, hát hay, cổ võ đời sống độc thân mà không sợ bị thiêu, bị ế. Dì cũng là một trong những người tranh đấu hăng say cho nữ quyền, từ khi còn là sinh viên thời ông Thiệu. Tôi không biết dì Trân có ước vọng làm Tổng Thống hay Thủ Tướng như Dì Hạ hay không? Dì Trân lớn hơn cậu Út hai tuổi và dì Hạ năm tuổi, nên coi dì Hạ như đứa em cưng nhỏ nhít luôn được nuông chiều hết mực. Thọat đầu, dì Trân thấy người yêu của em trai mình có chút thu hút đặc biệt nên tò mò muốn tìm hiểu. Nhưng dì Trân chưa coi dì Hạ như một tri âm, hay quí hơn nữa, là bản sao của chính mình. Giống như khi ta đang đi du lịch ở một xứ sở xa xôi nào đó, trong lúc ngồi chờ đợi ở phi trường bên cạnh đám hành khách chỉ tòan dân da trắng, bỗng dưng ta phát hiện một người da vàng mũi xẹp như mình, đang say mê đọc một quyển sách trông rất lý thú. Cho là lý thú vì người đó thỉnh thỏang ngừng đọc, ngước lên cười vu vơ, rồi lại cúi xuống ghi ghi chép chép, rồi lại cười sằng sặc một mình. Ta hơi tò mò muốn nhìn lén để coi  sách được viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Nhựt… hay của một tác giả tên tuổi nào? Nhưng trời đất quỷ thần ơi! Té ra sách là quyển truyện tiếng Mít, mà tác giả lại là chính mình mới… đã chớ!!! Phát hiện đó, nó vừa “đã” “vừa phê” khiến thời gian chờ đợi ở phi trường cũng không đến nỗi thăm thẳm chiều trôi! Chắc chắn ta sẽ muốn làm quen và trò chuyện với người đó cho bằng được.

Người hành khách đó chính là dì Hạ. Với bản chất nhạy sẵn có, dì Trân còn khám phá thêm ở dì Hạ có ánh lên một vẻ gì đó gần giống như hào quang. Hào quang đó hình như là cái óng ánh tự nhiên của một viên ngọc quý, đang nằm lẫn lộn trong đống sỏi cát. Sức quyến rũ, thu hút của viên ngọc khiến dì lè lẹ lượm lên, tự tay chùi rửa để nét lộng lẫy của ngọc được phơi bày trở lại. Sự khám phá đầy lý thú và tuyệt vời đó đã khiến  tình cảm hai dì, ngày qua ngày, càng thân thiết, càng tương đắc hơn. Sự trân quý lẫn nhau giữa hai dì có thể được giải thích như câu chuyện vừa kể. Thêm vào đó, dì Trân thường mở mắt cho dì Hạ từ những bài tóan khó, cho đến những kiến thức phổ thông hay văn chương nghệ thuật. Mặc dầu, đôi khi cũng bị dì Hạ chỉ ra những cái sai cái dở bằng những nhận xét hết sức tinh tế lẫn thông minh, khiến dì Trân càng tâm đắc, càng nể phục.

Khi tiệm thuốc bắc, thuốc tây, trại hòm và tất cả mọi ngành nghề đều phải  làm ăn theo lối hợp tác xã, Ngọai tôi đành ngậm ngùi từ giã nghề bắt mạch hốt thuốc. Bao nhiêu của nổi của… phình tích tụ nhờ cái đức của Ông Thiệu trước đây, Ngọai đành phải đau khổ móc ra trang trải cho bù lỗ. Đùng một cái có lịnh của hai Ông ngọai truyền ra: cho phép cậu Út tiến hành hôn lễ với dì Hạ. Và lịnh phán tiếp: sau ngày cưới, dì Hạ sẽ vẫn tiếp tục việc học cho đến khi tốt nghiệp ngành khoa học mà dì ưa thích. Các đương sự cứ chiếu theo nhiệm vụ mà thi hành.

Hồi đó, tôi mười bốn tuổi, học đang lớp chín, đau khổ phụ trách chùi hai bộ lư, chỉ với hai phương tiện sơ đẳng là tro bếp với khế chua. Ngòai ra, ba má còn biệt phái tôi cho mấy cậu, mợ tùy tiện xử dụng để sai vặt, viết thiệp mời, hoặc làm thợ vịn trong mọi công tác khẩn trương mà ông ngọai đề ra được hòan thành mỹ mãn.

Nhà cửa đã được tém dẹp gọn ghẽ, thiệp mời đã được gởi đi xong xuôi, hai bộ lư đổng đã  được chùi đến bóng ngời, đang chễm chệ trên bàn thờ trước thời hạn đến ba ngày mà chỉ tiêu Trên đã đề ra.

Tối hôm đó, ông bà ngọai đang ra vô săm soi mâm trầu rượu. Dưng không, người nhà ông ngọai Năm ghé qua báo tin dì Hạ đã đi đâu mất tiêu từ lúc sáng sớm. Coi lại thì đồ đạc vẫn còn y nguyên. Cậu Út nghe tin dữ nầy đang lúc hớn hở trang hòang phòng tân hôn. Tôi chạy sang nhà ngọai định hóng chuyện người lớn, sớn sát làm ngã cái ghế bị má tôi trừng mắt, đành lẵng lặng đi tìm dì Trân thì mới hay dì cũng mất biệt không biết từ lúc nào, chỉ còn sót lại căn phòng tối om với mớ quần áo bừa bãi khó hiểu. Ai cũng bận bịu chuẩn bị cho đám cưới, mỗi người một việc nên không ai để ý đến hai dì đi đâu và làm gì. Mỗi người trong gia đình, từ ba má tôi cho đến các dì dượng cậu mợ đều sống quanh quẩn gần nhà ngọai. Nơi đây thường là chốn tụ hội để mọi người ghé qua mỗi ngày. Khi sự việc vỡ lở, ai nấy đều túa ra đi tìm hai dì ở những nơi quen biết.Bên nhà ông ngọai Năm cũng ơi ới gọi nhau và hớt ha hớt hãi như là chạy giặc. Nhà chúng tôi như có tang!

Mất tích? Tai nạn? Bắt cóc? Hay cô dâu bỏ trốn vì không đồng ý cuộc hôn nhân? Nhưng họ đã yêu nhau tự nguyện và cùng đồng ý chọn ngày lành tháng tốt kia mà. Vượt biên? Danh từ nầy còn mới mẻ lắm. Nhưng sao không cùng đi với nhau cho có vợ có chồng? Tại sao hai dì lại cùng mất tích? Ai chủ động việc nầy? Dì Trân hay dì Hạ? Sao cậu Út lại không hay biết gì cả? Không ai nói với cậu một lời. Bao nhiêu câu hỏi được đặt ra, nhưng mọi người đều ngơ ngác nhìn nhau lắc đầu ngao ngán. Tôi thương cậu tôi vô cùng. Tôi muốn cùng chia sẻ mọi thứ tai họa với những người thân, nhưng tôi chỉ khờ khạo lấm lét đứng xớ rớ bên cậu, mà chẳng nói được một lời an ủi hay vỗ về, dù trong lòng cảm thấy rất ái ngại trước nỗi hụt hẫng và lo lắng tột cùng của cậu tôi.

Sức khỏe ông ngọai xuống dốc thấy rõ, bà ngọai tiều tụy, ông ngọai Năm nằm liệt chiếu. Cậu Út hóp má, hai con mắt sâu o, trỡm lơ như ngày gia đình bị liệt vào thành phần tư sản mại bản. Cậu chạy lui chạy tới nghe ngóng tin tức, đi hồi khách mời, trả lời với bà con xa gần, người ý kiến nầy, kẻ ý kiến kia, có ông khuyên nhủ, có bà an ủi, rồi chính quyền hù dọa, công an tới lui, những ánh mắt tò mò của thiên hạ… Cậu tôi phải đối đầu biết bao nhiêu thứ phiền nảo. Tôi đi ra đi vô buồn hiu, chẳng lòng dạ nào mà trững giỡn với cậu như trước kia nữa.

Mãi ba tháng sau, ông ngọai tôi mới nhận được thư của hai dì báo tin bình yên trên một hòn đảo lạ hoắc lạ huơ nào đó bên Nam Dương. Cả nhà thở phào nhẹ nhõm. Quái lạ! Chẳng nghe ai trách móc về việc hai dì đã lặng lẽ ra đi mà không nói với ai một lời. Đôi mắt lá ớt thiếu sinh khí của cậu tôi thóang chút long lanh sau ba tháng suy tư dằn vặt. Cậu bồi hồi đọc đi đọc lại lá thư báo tin, mang chút hơi hướm của người mà cậu đã thương, đã nhớ, đã nắm giữ linh hồn cậu. Nỗi nhớ thương đã lấp đầy thời gian, đã trở thành thường trực. Nên ngày đêm nào,  phút giây nào, tích tắc nào, cậu cũng thấy dì Hạ đang ẹo đầu nhìn cậu cười nụ, đang sừng sững tươi rói trong tim, trong máu, trong hơi thở và trong bầu khí quyển rất riêng của cậu mợ. Ý niệm thời gian đối với cậu bây giờ hòan tòan vô nghĩa. Chỉ còn là nỗi nhớ thương dạt dào. Khi ăn, khi uống, khi đứng trước một cảnh đẹp, đi qua một nơi chốn đầy kỷ niệm, đọc một bài thơ đắc ý, hay khi vô tình nhìn thấy một bóng dáng nào đó lướt qua, dù là một mái tóc, một dáng đi, một câu nói, một tiếng cười… có đôi chút giông giống cố nhân, là tim cậu thắt lại, muốn ngừng đập, muốn nghẹt thở, muốn thót ruột thót gan, muốn trào nước mắt… vì nghẹn, vì…nhớ.

Những lá thư, hình ảnh và quà cáp được gởi về nhiều hơn mỗi ngày từ thành phố Sydney của nước Úc xa xôi. Hai dì cùng đi học lại, ở chung với nhau và trông vẫn khắng khít như ngày nào. Hai gia đình ông ngọai đều hồng hào trở lại sau những ngày lo âu buồn khổ. Mọi người đều mừng cho cậu Út với một tương lai không xa, sẽ được dì Hạ bảo lãnh đòan tụ. Riêng cậu tôi vẫn ngày ngày lầm lì trong công việc cùa một bác sĩ thú y, chẳng chút nôn nao, giờ rãnh chỉ tẩn mẩn bên mấy quyển sách, hay tiêu khiển bằng cách viết thư và đọc thư của dì Hạ.

Thời buổi khó khăn, khiến người ta nhốn nháo tranh sống, như những con gà bôi mặt đá nhau, và đá đến chết chỉ vì những con trùng, con dế nhỏ nhoi. Hằng ngày, cậu tôi phải đối mặt với những hành xử lạ lẫm của thiên hạ, không giống như thời trước. Cậu ngán ngẩm những bầu bán lao động tiên tiến gian dối, những tiệc tùng nhảm nhí để tâng bốc thành quả của nhau, những cuộc rượu ba hoa, bá láp và vô bổ bên những câu chuyện tiếu lâm giễu dở cũ rích, nghe lần đầu đã ngượng, nghe lần sau phát ói. Tất cả những thủ đọan, mánh mung, bon chen, tranh giành phiếu mua đường mua sữa, hay tranh thủ để được anh ba, anh năm chiếu cố, làm cậu mệt đừ. Cậu mệt đừ, nhưng không khổ sở bằng những đêm lặng lẽ đối diện với cô đơn và khắc khỏai nhớ thương. Lại thêm chứng mất ngủ hành hạ, khiến cậu ngày càng tiều tụy đến tội nghiệp. Nhưng cậu thầm nghĩ, mượn rượu hay thuốc ngủ để quên những bế tắc, chỉ là sự kém cỏi của kẻ lười suy nghĩ. Cậu thấy cần biết bao, bộ óc nhạy bén và thông minh của dì Hạ! Cậu đã gọi thầm tên dì biết bao lần? Trong thân ái và trong rên rỉ. Cậu thương tiếc biết bao cái trương mục yêu thương mà cậu đã đầu tư và ký thác! Dì Hạ của cậu Út thật gần, mà cũng thật xa. Xa tít!

Năm năm vẫn còn chưa đủ để Gò Dầu quên đi vết thương đám cưới hụt của cậu tôi, dù Gò dầu đã đổi thay rất nhiều. Gò Dầu cũng không còn là một thị trấn biên giới sầm uất của một thời. Núi Bà Đen u buồn nhìn đám thợ rừng đốn sạch gỗ quý từng ngày… Ngọn núi hùng vĩ ngày nào, than ôi, nay trở thảnh ngọn núi trọc thảm thương. Sông Vàm Cỏ đông nhơ nhớp, muốn ngừng trôi vì chở nặng những đám lục bình dày đặc, không ai thèm chăm sóc. Tôi đau lòng nhìn Gò Dầu xác xơ và buồn hiu!

Dưng không, bữa nọ cậu tôi dẫn về trình diện ông bà ngọai một thiếu phụ cùng hai đứa con nhỏ. Cậu trình với ông bà ngọai:

– Đây là người mà con muốn bảo bọc và chăm sóc đến hết đời. Nếu ba má thương con, muốn cho con có đôi có bạn thì xin ba má chấp thuận cho vợ chồng con và hai cháu ở đây để phụng dưỡng ba má suốt đời. Các con hãy lại đây khoanh tay thưa ông bà nội.

– Bây vừa nói cái gì vậy Út? Mời anh chị Hai bây qua đây rồi tính.

Bà ngọai mặt chưng hửng, mày tái xanh và dường như chưa tin ở lỗ tai mình sau khi nghe  những lời thưa gởi của cậu út. Còn ông ngọai đang chới với, trầy trật cố vấn điếu thuốc mà cũng không xong. Tay ông run run như người ta đang làm cữ sốt rét.

Anh chị Hai bây mà bà ngọai vừa nhắc tới chính là ba má tôi. Má là bà chị hai khó tính của đàn em chín đứa. Cậu Út và dì Trân là hai nạn nhân đã từng khóc chết bỏ mỗi lần bị Má tôi lôi ra tắm rửa kỳ hòm. Má là cô giáo tiểu học lâu năm uy tín ở quận nhà, là khắc tinh của những sĩ tử còn đang tập tành đánh vần một cách vô cùng trật duột. Các cậu, dì đều ngán cái uy và cây đũa bếp của Má còn hơn cả ông bà ngọai. Mà nói nào ngay, cả ba tôi còn phải lấm lét, huống gì cậu Út Vét nhỏ nhoi đáng thương của tôi. Khi ba má tôi tới để ông ngọai dạy việc, tôi có dịp nhìn kỷ hai đứa bé trai kháu khỉnh, có đôi mắt trong vắt và tròn xoe như hai viên bi. Một em lên năm và một em lên ba, đang nép mình bên người đàn bà đèm đẹp, có nước da trắng hồng như một cư dân Đà lạt.

Cậu tôi ngoắc hai đứa nhỏ lại.

– Hai con lại đây thưa cô dựong Hai.

Thiếu phụ cúi đầu chào ba má tôi. Hai đứa bé cũng lễ phép khoanh tay cúi đầu thuần thục. Cậu tôi nhập đề trực khởi:

– Hai à! Tụi em đã lén lút có con với nhau mấy năm nay, nhưng sợ ba má và anh chị rầy la, cho nên không dám thú thật. Thời thế hôm nay cũng đã đổi khác, em Hạ cũng đã yên phận ở nước ngòai. Em cầu mong mọi người đón nhận vợ con em như những người thân thiết đã thất lạc lâu năm vừa gặp lại, để em có dịp làm tròn chữ hiếu với ba má và trọn nghĩa trọn tình với vợ con em.

Cậu tôi râm rấm nước mắt vừa cầm tay người đàn bà đó, vừa ôm hai đứa nhỏ, vừa thuyết phục mọi người.

Má nhíu mày, gay gắt bằng tông rế trưởng chót vót:

– Nhưng mà Út có bàn qua với dì Hạ  chưa, hè?

Chữ má kéo dài đến ba bốn nốt nhạc.

Cậu tôi nhẫn nại, nhỏ nhẹ:

– Đây cũng là ý của em Hạ và chị Muời mà Hai!

Ba tôi tằng hắng, không dám nhìn sang má, nhưng giải quyết ngon ơ :

– Đã có sự chấp thuận của dì Hạ rồi thì mình coi ngày nào sạch sạch cho hai đứa cháu nội lạc lòai của ba má đây biết mặt biết mũi dòng  họ hai bên là xong.

Má  cạo.. râu ba tôi bằng cái liếc lẫm liệt:

– Nhưng mà ba má và hai bác phải quyết định chuyện nầy. Rồi còn gia đình bên dì Hạ nũa chớ?

Câu nầy má đã xuống bớt một tông và chữ chớ rất đúng nhạc lý, nên tôi có thể đóan được má có nhiều thiện cảm với vợ con cậu Út rồi.

Ba tôi tiếp tục vùng lên, noi gương tiền nhân, làm Lê Lai cứu em vợ:

– Chiều nay mình cầm cái thơ đồng ý của dì Hạ đem trình hai bác bên đó và xin phép xin tắc cho đúng lễ nghi quân cách rồi mình hợp thức hóa cho tụi nhỏ. Còn bây giờ mình đi nấu một nồi cháo gà để ăn mừng hai đứa cháu nội lạc lòai của ba má đi mình.

Chữ mình của ba ngọt lịm như chè đậu nước cốt dừa. Quả là ba tôi có tài thao lược,  nên hòa bình đã được lập lại ngon ơ mà không tốn một giọt máu đào nào hết ráo!

Chuyện cậu Út tôi mặc dầu đã được ba tôi giải quyết tốt đẹp, nhưng riêng tôi vẫn còn ấm ức và nóng ruột dùm dì Hạ. Tôi nghi ngờ tình yêu của cậu đối với dì Hạ trước đây. Tôi ngán ngẩm đôi mắt lá ớt của cậu. Tôi không ghét mợ Út mới, tôi thương hai em dễ dạy ngoan ngỏan, nhưng niềm tôn kính lâu nay của tôi đối với cậu hòan tòan sụp đổ. Tôi chán ghét nên không muốn gặp cậu. Tôi cũng không cần cậu giúp cho những bài tóan khó. Tôi chưa đủ lớn để hiểu chuyện người lớn, nhưng đã nhận thức được thế nào là bội bạc như vôi.Tôi mượn cớ bận học thi để ít tới lui nhà ngọai sau tiệc mừng ra mắt của cậu mợ.

Mãi đến khi tốt nghiệp đại học, tôi mới trở lại nhà ngọai để dưỡng sức trước khi đi nhận nhiệm sở. Một buổi trưa đang nằm đong đưa trên võng đọc sách dưới tàng cây trứng cá, dưng không cậu Út đến ngồi kế bên vò đầu tôi một cách trìu mến và chậm rãi tâm sự:

– Cậu biết Tịnh và nhiều người óan ghét cậu lắm, nhưng câu chuyện của cậu khá phức tạp, đòi hỏi người nghe cần có sự đồng cảm, có chút hiểu biết lẫn tinh tế để cùng đi tìm cách giải quyết tối ưu và giảm thiểu những tổn thương. Nhưng có lẽ, tốt hơn hết là không nên kết luận hay phán xét,  lên án người nầy, khen chê người nọ hoặc thương ghét lung tung.

Hết sức bất ngờ, tôi ngạc nhiên hòi cậu:

– Cậu biết con óan ghét cậu điều gì và con muốn biết tại sao?

Tôi bỗng tò mò khi nhìn thấy xấp thư trên tay cậu tôi. Cậu Út thư thả, trầm lắng:

– Ánh mắt của Tịnh đã tố cáo cảm xúc của con, những câu nói sáo rỗng thọat nghe hết sức lễ phép trước đây, đã tố cáo sự không muốn tiếp tục gần gũi thân tình với cậu như ngày con còn nhỏ. Nhưng thôi! Chỉ vì hai cậu cháu mình cùng quá lo lắng cho dì Hạ đó thôi. Đây là tất cả những thư từ của hai dì gửi cho cậu. Tịnh cứ nhẫn nha đọc trong những ngày tới, nhưng tuyệt đối không được thố lộ với bất cứ một ai. Cậu không cần Tịnh phải hứa vì cậu tin Tịnh.

Cậu dừng lại vài giây để châm điếu thuốc:

– Dì Trân và dì Hạ luôn luôn khắng khít từ xưa tới nay như Tịnh đã biết.  Nhưng họ không chỉ khắng khít trong tình bạn hay tình chị em, mà họ còn là một đôi vợ chồng, Tịnh biết không? Cậu chết đứng như bị trời trồng khi hai dì thú nhận họ là hai người đồng tính và yêu nhau từ những ngày còn ở bên nầy. Chắc Tịnh hiểu lý do tại sao hai dì đã trốn đi trước ngày cưới khiến cậu trở thành chú rể hụt rồi chứ?

Tôi thật sự bàng hòang và chết lặng trước những điều cậu vừa nói.

– Lẽ nào như vậy hả cậu Út?

Nét mặt cậu tôi không biểu lộ vui buồn, nhưng trông bình an như Đức Phật:

– Cậu nào phải là một thằng phải gió con rơi con rớt theo kiểu: “Gió đưa bụi chuối sau hè. Giỡn chơi một chút ai dè có con” như Tịnh đã nghĩ . Mợ Út chính là người bạn thân bất hạnh của cậu và dì Hạ. Chồng của mợ là sĩ quan đã chết trong lao tù cải tạo. Dì Hạ có ý muốn cậu cưu mang ba mẹ con họ. Yêu dì Hạ nên cậu chẳng từ nan bất cứ yêu cầu nào. Hơn nữa cậu biết rõ tánh tình đôn hậu của mợ và thương hai đứa nhỏ như con ruột nên cũng chẳng ân hận gì khi đem họ về trình diện ông bà ngọai. Cậu quyết định như vậy vì hành trình đi tìm hạnh phúc của cậu và dì Hạ đã không được suông sẽ. Do đó cách giải quyết tốt nhất  là cùng nhau tìm một giải pháp tạm gọi là tối ưu để giảm thiếu sự tổn thương của mọi người trong cuộc.

Ngừng một giây để hớp chút nước trà thấm giọng, cậu không nhìn tôi mà mắt hướng về phía xa xăm, như đang hồi tưởng chuyện xưa:

– Khi dẫn ba mẹ con mợ Út về đây, ông bà ngọai, ba má Tịnh và các dì dượng có thể chê trách cái thói trăng hoa của cậu, nhưng họ cảm thấy ít bị tổn thương hơn là cậu bị dì Hạ ghét bỏ. Tịnh để ý cụm từ ít bị tổn thương cậu vừa nói. Đó là tâm lý binh vực người thân. Thêm vào đó, ông bà lại được hai đứa cháu nội dễ thương mà ông bà hằng mơ ước. Sự đau khổ do đó cũng được giảm thiểu ít nhiều.

Tôi chợt hiểu ra và nhìn cậu dạt dào thương mến:

-Vậy còn phần gia đình ông ngọai Năm?

Cậu gật đầu mau mắn:

– Khi cậu đem lá thư dì Hạ mong muốn cậu thành hôn với người khác, để trình cho gia đình ngọai Năm. Họ không óan trách cậu mà còn tỏ ra tội nghiệp cậu vì có thể họ nghĩ dì Hạ đã tìm được người xứng đáng hơn. Họ lại cũng không tránh khỏi tâm lý binh vực người thân, do đó họ ít bị tổn thương hơn là chính cậu bỏ bê dì Hạ.

Giọng cậu tôi bỗng nghèn nghẹn:

– Ngòai ra cậu chọn lựa quyết định như vậy để dì Hạ và dì Trân ít bị tổn thương hơn là bảo lảnh cậu sang đó, để mỗi ngày hai người phải nhìn cậu chết dần chết mòn trong đau khổ.

Áy náy trước đôi mắt sắp rơi lệ của cậu, tôi muốn hướng về đề tài khác:

-Tịnh muốn nghe nhận định của cậu về hai dì được không?

– Cám ơn con đã hỏi cậu câu nầy. Thật ra, đồng tính luyên ái không phải là cái bịnh, và càng không phải là cái tội. Sở dĩ xã hội chưa chấp nhận một cách thỏai mái và bao dung vì con người còn ích kỷ lẫn hẹp hòi. Họ là thiểu số thiệt thòi đáng thương của nhân lọai bị Tạo hóa ác ý chọn lựa. Chúng ta nên đồng cảm hơn là dè bỉu vì họ cần được hỗ trợ để yêu, để sống . Hơn nữa, chọn lựa của cậu cũng là cách hỗ trợ để dì Hạ yêu đời.

Cậu trầm giọng giảng giải như ngày tôi còn bé:

– Lúc trẻ, khi còn cưỡng lại được giới tính, dì Hạ đã yêu cậu bằng tình yêu bình thường của người nữ dành cho người nam. Ngòai tình yêu, còn coi nhau như tri kỷ. Nhưng khi lớn lên, dì phải trở lại với giới tính của dì. Đó là điều tự nhiên. Cậu có thể hiểu được tình cảm của hai dì, tình yêu đó cũng không khác gì tình yêu của cậu dành cho dì Hạ. Cậu chẳng có gì phải phiền trách dì Trân, sự kính trọng vẫn còn đó, tình chị em vẫn còn đó mãi mãi. Cậu tin tưởng, biết ơn và yên tâm với lối chăm sóc của dì Trân dành cho dì Hạ, chắc chắn bằng hoặc tốt hơn cả cậu. Được chăm sóc người mình yêu thương trân quý – là một đặc ân – là một hạnh phúc – nhưng phải với ý thức tự nguyện và hân hoan. Tự nguyện và hân hoan để trân trọng và gìn giữ tình yêu. Dục tình, tiền tài, danh vọng đều thấp hơn ái tình.  Đó là cậu chỉ nói về phần vật chất. Còn tinh thần! Cái nầy mới quan trọng! Rất cần sự hiểu biết và tương kính trong đời sống lứa đôi. Khi tim họ được ca hát luôn mồm, lòng họ sẽ phơi phới, thì tình họ cũng sẽ dạt dào, lai láng! Nếu không còn khả năng đem lại cho họ một nụ cười, đó là lúc mọi thứ đều khô cằn và không còn chất sống. Dì Trân là bậc thầy của cậu trong vấn đề nầy. Dì có thừa khả năng thay thế cậu.

Đóan biết tôi đang hưởng ứng câu chuyện một cách hào hứng, cậu nhìn tôi như biết ơn:

– Chọn lựa sống xa dì Hạ còn là phương cách tối ưu giúp cho cá nhân cậu vẫn luôn giữ được sợi dây mật thiết với người mình yêu, mà ít bị tổn thương nhất. Tịnh thấy sao?

-Tịnh xin lỗi cậu. Tịnh nông nỗi và ngu muội đã óan trách cậu. Tịnh suy nghĩ không bằng cái lai áo của cậu, Tịnh có sống thêm mấy kiếp cũng không có được cái nhân cách tuyệt vời của cậu.

Tôi viết những dòng nầy, khi tôi đã có vợ con. Ông bà ngọai và ngọai Năm của tôi đều đã khuất núi vài năm trước. Tôi không mong những người thân của tôi đọc được những uẩn khúc mà cậu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

tôi đã thương mến và tín nhiệm kể cho tôi nghe, ngòai hai đứa con của tôi để chúng hãnh diện về ông nội Út thân yêu của chúng. Các con tôi đều kêu cậu mợ tôi bằng ông bà nội Út. Tôi kính trọng và thương mến cậu mợ tôi như cha mẹ ruột. Cậu mợ vẫn còn tráng kiện và vẫn hòa thuận, tương kính nhau như những ngày còn trẻ. Cậu tôi cũng đã

xây mồ mã tươm tất và đặt bàn thờ  người chồng trước của mợ tôi trong nhà. Hằng năm đều có giỗ quãy hẳn hoi, làm mọi người cứ tưởng là l anh trai của mợ. Tình nghĩa và sự tôn kính khiến mợ Út bật lên những đức tánh cao quý, nên mợ rất được lòng của mọi người. Dì Hạ và dì Trân vẫn thắm thiết, đậm đà

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

da diết bên nhau. Hai dì thỉnh thỏang có về thăm gia đình và đóng đô ở nhà cậu mợ Út. Căn nhà nầy hai dì đã bỏ tiền ra sửa sang trông khang trang hơn hồi ông bà ngọai còn sống. Hai đứa con của cậu mợ Út rất ngoan và đã tốt nghiệp đại học, cũng đều do hai dì giúp đỡ. Hai em đều gọi hai dì bằng má Hạ, má Trân. Mỗi lần dì Hạ về quê, cậu tôi vẫn thích thú đèo dì bằng xe Honda đi thăm bà con, bằng hữu và trà đàm với nhau rất tâm đắc, giống y như lúc còn trẻ. Hình ảnh của dì Hạ vẫn được trang trọng treo đầy trong nhà, kể cả bức ảnh nghệ thuật có tên CHỊU CHƠI của dì lúc còn nhỏ xíu.

nguyễnvănthiệu

*chú thích tác giả: xin được coi đây là “chiện”, chứ không phải là “tì bút” hay truyện ngắn gì ráo!