Tây Ninh nắng nóng nung người

Mà trận địa thì loang máu tươi.

Như đã hoạch định, hành quân tảo thanh chiến khu C đã phải hoãn lại cho cuộc hành quân Cedar Falls vì lý do tình báo. Chiến khu C là vùng tương đối bằng phẳng và đầm lầy với diện tích khoảng 1500 dặm vuông. Phía Bắc và Tây là biên giới Việt Miên. Quốc lộ 13 là ranh giới phía Đông của chiến khu. Một đường ranh tưởng tượng chạy từ Bến Cát ngang qua Tây Ninh và kéo dài tới biên giới Việt Miên là giới hạn phía Nam (xem sơ đồ 1). Các rừng thưa bao bọc phía VNCH nhưng càng đi về phía biên giới, rừng càng dày đặc xen lẫn với những đồi trọc. Ngọn núi duy nhất trong vùng là núi Bà Đen với cao độ 196 mét (884 mét?). Cũng như khu Tam Giác Sắt, chiến khu C như tên gọi là vùng nằm dưới ảnh hưởng của CS lâu đời.

Cuộc hành quân tảo thanh chiến khu C được đặt tên là Junction City. Lực lượng của cuộc hành quân nầy gồm: 2 Sư Đoàn 1 và 25/BB; 5 Lữ đoàn: 173 Dù; 196 Khinh binh, 199 Khinh binh, Lữ đoàn 3 thuộc Sư Đoàn IV BB và một Lữ Đoàn thuộc Sư Đoàn 9/ BB.  Lực lượng yểm trợ gồm: Trung Đoàn 11 Kỵ binh Thiết giáp và 17 Tiểu Đoàn Pháo binh dã chiến. Tổng cộng quân số hành quân chừng 25.000 người, được đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tướng J.O.Seaman, Tư lệnh Quân đoàn II Mỹ (II Field Force).

Hai cuộc hành quân sơ khởi được mở ra để đánh lạc hướng CS. Lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 4 BB cùng với lữ đoàn 196 Khinh binh đã mở một cuộc hành quân Lùng và Diệt tại vùng biên giới phía Tây chiến khu C gần Lò Gò và Xóm giữa. Cuộc hành quân mang tên Gadsden kéo dài từ ngày 3 đến ngày 21.2.1967. Các đơn vị hành quân  đếm được 161 xác quân CS và tịch thu được nhiều quân trang, quân dụng. Cuộc hành quân này đồng thời đã án ngữ cạnh phía tây của chiến khu C.

Cuộc hành quân nghi binh thứ hai được đặt tên là Tucson kéo dài từ ngày 14 đếng 18.2. Hai lữ đoàn 1 và 3 thuộc sư đoàn 1 BB tổ chức hành quân vùng phía Nam Chơn Thành rồi từ đó tiến dọc theo quốc lộ 13 về phiá bắc để cắt đứt sườn phía đông của chiến khu C

 1. Diễn tiến

Cuộc hành quân Junction City gồm 3 giai đoạn, chánh thức bắt đầu ngày 22-2-1967. Chuẩn tướng J.R.Dean Jr. đã hướng dẫn Tiểu Đoàn 2/503 thuộc Lữ Đoàn 173 Dù nhảy xuống Katum. Đây là cuộc hành quân Nhảy dù duy nhất của quân đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam. Trong khi đó 2 Tiểu Đoàn 1/503 và 4/503 cũng thuộc Lữ Đoàn 173 Dù được trực thăng vận xuống 4 bãi đáp tại hai hướng Nam và Bắc bãi nhảy của Tiểu Đoàn 2/503.

3 giờ chiều cùng ngày, 3 Tiểu Đoàn Dù báo cáo sẵn sàng tại vị trí hành quân, không có báo cáo chạm địch trong ngày. Lữ Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn I/BB cũng đã di chuyển dọc Tỉnh lộ 4 hướng về Bắc để bắt tay với Lữ Đoàn 173 Dù tại phía Nam Katum. Sau một ngày hành quân, 18 Tiểu Đoàn bộ binh với sự yểm trợ của 13 căn cứ hỏa lực (CCHL) đã tạo thành móng ngựa chặn các mặt Bắc, Đông và Tây. Sau đó, Lữ Đoàn 2 và Sư Đoàn 25 BB cùng với Trung Đoàn 11/Kỵ binh đã từ Tây Ninh tiến lên khép chặt mặt Nam.

Kế hoạch hành quân của Mỹ được CS báo cáo như sau(1):”Đó là dùng các phương tiện cơ giới xe thiết giáp, máy bay trực thăng, máy bay nhảy dù đổ quân bao vây bịt kín biên giới VN-Campuchia về phía bắc và dọc sông Vàm Cỏ Đông ở phía Tây, rồi tiến quân làm hai gọng kìm theo các lộ 20, 22 và 4 kẹp chặt hai bên, sau đó dùng lực lượng mạnh đánh thẳng vào ruột căn cứ chia cắt, càn quét, cha xát, triệt hạ hết kho tàng, tiêu diệt hết lực lượng kháng chiến, tiêu diệt các cơ quan đầu não Việt cộng”.

Về chi tiết, họ đã phân tích (1): “ Đối với nửa chiến khu B ở đông lộ 22,  . . . . . .. . . . . .

(bỏ 14 dòng vì lập lại kế hoạch hành quân của quân đội Mỹ)  .. . . . . . . . .  .. . . . . . . . .

Ngày 28-2, Lữ Đoàn Dù khám phá được căn cứ của VC gồm dụng cụ ấn loát, phim ảnh và nhiều tài liệu. Trong khi đó thì tại phía Nam, Tiểu Đoàn 2/16 BB dưới quyền chỉ huy của Trung tá R. Lazzell đụng độ mãnh liệt với Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung đoàn 101 CS Bắc Việt. Do rừng già dầy đặc, bom CBU được sử dụng cùng với 54 phi tuần của Không quân. Phía Mỹ có 25 binh sĩ thiệt mạng và 26 người khác bị thương, đổi với 167 cán binh VC bỏ xác tại chiến trường(2).

Ngày 03-3, lực lượng Dù đụng độ với quân Cộng sản tại phía Đông Katum. Sau nửa giờ giao tranh, quân CS rút lui bỏ lại chiến trường 39  xác chết; Mỹ có 20 binh sĩ tử thương và 28 người bị thương(3). Ngày 10-3, Tiểu Đoàn 2/2 BB trong khi yểm trợ Tiểu Đoàn 168 Công binh thiết lập trại Lực lượng Đặc biệt (LLĐB) Prek Klok đã bị một Tiểu Đoàn thuộc Trung đoàn 272 VC tấn công. Với sự yểm trợ khoảng 100 phi xuất và hỏa lực của Tiểu Đoàn 2/33 Pháo binh có mặt ngay tại chiến trường, Việt cộng rút lui sau một giờ giao tranh, bỏ lại 160 xác chết (4). Phía Mỹ có 3 tử thương và 38 bị thương(2).

Giai đoạn II cuả cuộc hành quân bắt đầu ngày 18-3, mục tiêu của giai đoạn nầy là càn quét vùng phía đông Katum, giới hạn bởi tỉnh lộ 4 và Quốc lộ 13. Theo kế hoạch hành quân trong giai đoạn nầy, Lữ Đoàn 173 Dù không tham dự. Tuy nhiên do nhu cầu hành quân của Sư Đoàn I /BB Mỹ, Lữ Đoàn 173 lại được tăng phái cho Sư Đoàn nầy với vùng trách nhiệm là chung quanh Minh Thành (Chơn Thành?).

Ngày 23-3, Lữ Đoàn thiết lập căn cứ hỏa lực Perry đồng thời tung các cánh quân tuần tiễu rộng ra ngoài căn cứ. Quân số địch thường không hơn 30-40 người trong các cuộc chạm súng. Ngày 1.5 lữ đoàn 173 Dù được lệnh rời vùng hành quân để tăng phái cho cuộc hành quân Fort Wayne tại Long Khánh. Một Lữ Đoàn thuộc Sư Đoàn 9/BB Mỹ được lệnh vào vùng hành quân để thay thế. Cuộc hành quân cũng được chuyển hướng sang phía Đông giới hạn bởi tỉnh lộ 4 và Quốc lộ 13. Trong giai đoạn nầy, phần lớn các cuộc đụng độ thường chỉ xảy ra ở cấp Trung đội ngoài trừ 3 cuộc đụng độ lớn trong các ngày 19.3, 21.3 và 31. 3.

Để các đoàn xe vật tải di chuyển được an toàn trên quốc lộ 13 từ Sàigòn đến An Lộc, quân đội Mỹ cho thiết lập nhiều căn cứ hỏa lực dọc theo quốc lộ nầy. Căn cứ hoả lực 20 gần ấp Bàu Bàng nằm giữa Lai Khê và Quản Lợi đồng thời cách Sài Gòn khoảng 60 cây số đã bị trung đoàn 273 VC tấn công khuya ngày 19.3. VC đã có lúc phá vỡ được phòng tuyến phòng thủ của chi đoàn A, thiết đoàn 3, trung đoàn 5 Kỵ binh Mỹ nhưng nhờ tiếp viện của  hai chi đoàn B và C, các lực lượng VC phải rút lui sau 6 giờ gia tranh ác liệt. 200 xác VC bỏ lại trận địa, quân đội Mỹ có 3 binh sĩ tử thương.

Để yểm trợ cho cuộc hành quân, nhiều căn cứ hoả lực đã được thiết lập. Một trong các căn cứ hoả lực nầy là Gold, nằm cách thị xã Tây Ninh khoảng 27 cây số về phía đông bắc. Ngày 19.3, tiểu đoàn 3/22 thuộc lữ đoàn 3 sư đoàn 4 BB Mỹ (lữ đoàn 3 được tăng phái cho sư đoàn 25 BB trong cuộc hành quân Junction City và trực thuộc hoàn toàn sư đoàn nầy ngày 1.8.1967) trong khi được trực thăng vận vào  bãi đáp, đã lọt vào ổ phục kích của quân CS. Nhiều trực thăng đổ quân bị bắn rơi trước khi quân Mỹ chiếm được vị trí nầy. Tiểu đoàn 2/77 Pháo binh sau đó đã di chuyển đến để thành lập căn cứ hoả lực Gold.

Lúc 7 giờ 15 sáng ngày 21-3, lực lượng khoảng 5 Tiểu Đoàn dưới quyền điều động của Trung đoàn 272 VC đã đồng loạt tấn công vào 3 hướng đông, đông nam và bắc của chu vi phòng thủ căn cứ hỏa lực Gold. Ngay phút đầu tiên, pháo binh đã yểm trợ từ nhiều hướng. Tiểu Đoàn 2/77 Pháo binh tại căn cứ nầy bắn trực xạ tất cả 1000 đạn pháo binh, kể cả 30 đạn chống biển người (Beehive). Pháo đội C thuộc Tiểu Đoàn 1/8 Pháo binh tác xạ khoảng 1000 đạn 105 ly. Pháo đội B thuộc Tiểu Đoàn 3/13 Pháo binh bắn khoảng 400 trái đạn đại bác 155 ly. Sau cùng là các đại bác 175 ly thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh quân đoàn II Mỹ bắn từ phía Nam.

Đến chừng 10 giờ 30, một đơn vị thuộc Tiểu Đoàn 2/34 Thiết giáp tùng thiết bởi một Tiểu Đoàn Bộ binh cơ giới đến tiếp viện. Đạn dược trong căn cứ đã gần cạn, quân CS đã chiếm được 2 đại liên 50 ly bốn nồng, đồng thời phá vỡ châu vi phòng thủ tại nhiều nơi. Viện binh đúng lúc đã lật ngược thế cờ, tránh căn cứ khỏi bị tràn ngập.

Trung sĩ Wood thuộc đơn vị bảo vệ căn cứ hoả lực này đã mô tả lại quang cảnh chiến trường như sau (5): “ Khi cuộc thu dọn bắt đầu, chúng tôi đã có thể nhìn tổng quát khung cảnh với tử thi rải rác chung quanh, VC và Mỹ… Chiến xa gắn dụng cụ ủi đất được mang đến và nhiều huyệt tập thể được đào để chôn VC…Một sự kiện khiến tôi vẫn nhớ mãi trong trí là khi tôi nhảy vào hố chiến đấu cá nhân lúc súng cối bắt đầu nổ, tôi chỉ mang theo súng M-16 và nhiều băng đạn, để lại đôi giày, dây choàng đạn và các bình nước ở ngoài. Khi trận đánh chấm dứt, đôi giày đã bị thủng nhiều lỗ và các bình nước đều bị các mảnh đạn xuyên thủng”.

Kết quả trận đánh, VC ỏ lại 635 xác chết, 7 tù binh. Phía Mỹ có 31 binh sĩ tử trận và 109 người khác bị thương. Mỹ tịch thu được 65 vũ khí cộng đồng và 94 vũ khí cá nhân (6)

Trận đánh lớn sau cùng của cuộc hành quân Junction City xảy ra ngày 31.3. Tiểu đoàn 1/26 thuộc sư đoàn I BB do Trung tá A.M. Haigh chỉ huy trong khi hành quân tảo thanh Ấp Gù đã bị một lực lượng hỗn hợp từ hai trung đoàn 70 và 271 CSBV tấn công. Cận chiến đã xảy ra tại tuyến phòng thủ. Đến sáng ngày 1.4, nhờ các bom CBU và sự tăng viện của tiểu đoàn 1/16 BB, cuộc tấn công đã tan rã. Kết quả trận đánh, VC bỏ lại 609 xáx chết. Phía Mỹ có 17 binh sĩ tử trận (7). Giai đoạn II của cuộc hành quân chấm dứt ngày 15.4.

Thành công của hai giai đoạn I và II đã khiến bộ Tư lệnh Quân đoàn II Mỹ cho tiến hành giai đoạn III. Lữ Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn 4 BB Mỹ được giao trách nhiệm tảo thanh phía Tây thành phố Tây Ninh. Ngày 21-4, Lữ Đoàn I thuộc Sư Đoàn 9/BB Mỹ cùng với Thiết giáp và Tiểu Đoàn 38 Biệt Động quân QLVNCH vào vùng hành quân để thay thế cho Lữ Đoàn 3. Tuy nhiên không có đụng độ nào đáng kể, nên giai đoạn III được kết thúc ngày 14-5-1967.

Lữ Đoàn 196 Khinh binh Mỹ theo kế hoạch sẽ ở lại chiến khu C để khai thác kết quả cuộc hành quân Junction City. Tuy nhiên do áp lực Cộng sản bắt đầu gia tăng tại Quân khu I, Lữ Đoàn nầy được gửi ra phía Bắc để thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Oregon. Thay vào đó, hai trại lực lượng đặc biệt Prek Klok và Tống Lê Chân được thiết lập để theo dõi các hoạt động Cộng sản trong vùng.

 2. Hậu quả

Phiá CS tuyên bố đã giết được 13.500 lính Mỹ và ngụy Sài gòn, đồng thời đã phá huỷ 993 xe các loại và 199 đại bác (8). Trên thực tế, kết quả của cuộc hành quân Juction City được ghi nhận như sau (9):

VC/CSBV :2728 chết, 34 tù binh, 139 hồi chánh, 65 tình nghi.

Mỹ: 282 chết, 1576 bị thương.

Thiệt hại vật chất gồm 3 chiến xa. 21 thiết vận xa M-113, 12 xe vận tải, 5 đại bác, 2 đại bác 50 ly bốn nòng cùng 4 trực thăng bị phá huỷ. Các lực lượng hành quân tịch thu được 100 vũ khí cộng đồng, 491 vũ khí cá nhân, 810 tấn gạo và khoảng 40 tấn thực phẩm các loại.

3. Nhận xét

Hành quân Junction City cho thấy các mật khu CS không còn là nơi bất khả xâm phạm. Sau cuộc hành quân nầy, Trung ương cục Miền Nam đã phải đặt chỉ huy sở trên đất Miên. Các cấp chỉ huy quân đội CS bây giờ phải dựa vào các cơ sở tại biên giới hơn là các mật khu kế cận các khu đông dân cư.

Bên cạnh các thắng lợi của các cuộc hành quân lớn trong hai năm 1966-67, người ta cùng nhìn thấy một số khuyết điểm. Trên lý thuyết, tướng Westmoreland cho rằng tảo thanh các mật khu sẽ khiến CS phải đối đầu trực tiếp để bảo vệ các điểm tiếp liệu. Mà nếu họ làm như vậy thì quân đội Mỹ với ưu thế về di động và hoả lực, có thể tiêu diệt được các đơn vị chủ lực của CS. Một khi các đơn vị nầy bị tiêu diệt hoặc bị đẩy lui xa vùng biên giới thì các lực lượng du kích do mất chủ lực yểm trợ sẽ bị tiêu diệt dễ dàng. Tuy nhiên thực tế cho thấy CS thường không đối đầu trực tiếp để tránh tổn thất. Hậu quả của chiến thuật nầy của CS đã khiến các cấp chỉ huy quân sự Việt Mỹ tin rằng thà CS để mất các kho tàng, cơ sở hơn là chịu tổn thất về nhân mạng. Đây là một trong những ước đoán sai lầm sẽ đưa đến thiệt hại trong cuộc hành quân Lam Sơn sang Lào năm 1971. Ngoài ra do thiếu thốn về quân số, khu vực được tảo thanh không được trấn giữ thường trực để bình định. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, lực lượng CS trở lại vùng hành quân. Các thành quả của một cuộc hành quân do đó không được khai thác đúng mức.

Để bổ túc cho khuyết điểm nầy, các trại LLĐB đã được thiết lập tại các vị trí chiến lược để theo dõi các hoạt động của CS. Tuy nhiên các trại này do toạ lạc tại các vị trí xa xôi và hẻo lánh, đã dễ dàng trở thành các mục tiêu của CS.

Tháng 9.1974, Đại tướng hồi hưu D. Kinnard đã hỏi ý kiến 173 tướng lãnh Mỹ từng tham chiến tại VN trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1972. Ba câu hỏi về chiến thuật Lùng và Diệt (Search and Destroy) được đặt ra trong bài phỏng vấn này. Theo đó, 38% phần trăm các tướng lãnh Mỹ đồng ý với chiến thuật này, tuy nhiên 51% cho rằng phương cách thi hành còn nhiều khuyết điểm. Tổng quát có 42% cho rằng các cuộc hành quân qui mô không cần thiết. Hoạt động tình báo hữu hiệu của CS khiến họ có thể lẩn trốn một cách dễ dàng. Cũng theo các tướng lãnh này thì các cuộc hành quân lớn đúng ra nên tổ chức tại miền Bắc VN với các mục tiêu rõ rệt hơn là dùng để truy lùng quân CS ẩn hiện tại rừng rậm miền Nam (10). Điều nầy không làm cho ai ngạc nhiên vì Clausewitz đã viết trong chương 14 tác phẩm nổi tiếng cuả ông rằng (11): “ Kẻ dùng lực lượng ở nơi mà địch cho cơ hội sử dụng là một nhà quản trị kém”. Rõ ràng các cuộc hành quân lớn truy lùng quân CS tại các vùng rừng núi đã không tuân theo nguyên lý lực lượng kiệm ước của Clausewitz.

Nguyên tắc về sử dụng lực lượng cũng đã được Tôn Tử ghi lại trong binh thư (12): “Đem kình với địch như trứng chọi đá thì cũng giống như lấy vật cứng đánh vào chỗ trống không”. Bài học của Tôn Tử đã được Mao Trạch Đông áp dụng để tránh né cuộc càn quét của 300 ngàn quân Tưởng Giới Thạch tại Giang Tây tháng 7 năm 1931. Đợi đến lúc quân Tưởng mỏi mệt vì hành quân thì Mao mới ra lệnh phản công. Chiến dịch kéo dài trong ba tháng này đã khiến tưởng Giới Thạch thiệt mất 30 ngàn quân cùng với 14 ngàn vũ khí các loại. Phê bình cuộc hành quân của Tưởng, Mao Trạch Đông viết (13): “ Nếu quân địch trội hơn và mạnh hơn ta thì ta có thể thay đổi các cân lực lượng khi để cho địch tiến sâu vào vùng của ta và đã nếm đủ mọi khó khăn mà ta đã dành cho chúng”. Hậu quả của việc phí phạm lực lượng này đã được binh thuyết gia hiện đại Liddel Hart phân tích một các rõ ràng (14): “ Sự lãng phí lực lượng quân sự của ta càng lớn khi mục đích tiêu diệt địch quân càng to. Điều nguy hiểm là ta càng muốn hữu hiệu bao nhiêu thì hậu quả sẽ ngược lại bấy nhiêu. Do đó kết quả càng tệ khi ta không đạt được thành công”. Tiếc thay sau khi chiến tranh VN chấm dứt, không đến phân nửa các tướng lãnh cao cấp Mỹ nhìn thấy được khuyết điểm của chiến thuật mà họ sử dụng tại VN. Thảo nào một sĩ quan Dù Mỹ đã viết (15): “ Nếu các tướng lãnh Mỹ sử dụng phương pháp gián tiếp của Liddel Hart thì họ đã có thể đánh bại được phương pháp Tôn Tử của miền Bắc VN. Than ôi không mấy tướng lãnh Mỹ đã đọc qua quyển sách của Liddel Hart”.

19 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, Đại tướng hồi hưu B. Palmer Jr., nguyên Tư lệnh phó bộ Tư lệng Viện trợ tại VN (MACV) và Tham mưu phó Lục Quân Mỹ (1968-1973) đã đề nghị một phương sách thay thế cho chiến thuật Lùng và Diệt (16). Quan niệm chiến lược của ông là dùng một lực lượng với 5 sư đoàn (2 sư đoàn Mỹ, 2 sư đoàn Đại Hàn và một sư đoàn VNCH) để ngăn chận phiá nam khu phi quân sự. 3 sư đoàn Mỹ khác sẽ vượt biên ngăn chận đường mòn HCM sang đến tận Thái Lan. Các đơn vị TQLC Mỹ sẽ làm lực lượng trừ bị ngoài khơi, đồng thời đe doạ đổ bộ vào miền Bắc VN để thu hút một phần các lực lượng CS tại đây. Theo ông, phương pháp nầy sẽ đem lại vô số lợi điểm. Về quân số, Mỹ sẽ không phải dùng đến gần 11 sư đoàn như đã triển khai tại VN. Số lượng tiếp liệu sẽ ít hơn và chỉ tập trung phía bắc của quân khu I khiến các căn cứ đồ sộ như Cam Ranh, Long Bình sẽ trở thành không cần thiết. Sự tập trung quân đội Mỹ còn khiến cho nền kinh tế cũng như lối sống của người dân Miền Nam VN không bị đảo lộn quá nhiều. Sự tàn phá của chiến tranh do quân đội Mỹ gây ra cũng giảm thiểu tối đa trên khắp nông thôn, rừng rậm Miền Nam. Cùng lúc đó, nỗ lực sẽ được tập trung trong việc huấn luyện và trang bị cho quân lực VNCH để bình định lãnh thổ. Chính quyền CSBV có thể phải đồng ý thương thuyết trước những bất lợi hiển nhiên. Sự có mặt của các lực lượng quân sự quốc tế có sẳn tại vùng phi quân sự còn là một bảo đảm cho những thoả ước hoà bình nếu có. Trong trường hợp các điều kiện về chính trị không cho phép quân đội Mỹ đóng thường trực trên đất Lào thì việc khoá chặt thung lũng A-Shau, các cuộc đột kích qua Lào cũng như dùng Không quân ngăn chận thường xuyên đường mòn HCM theo ông vẫn là một giải pháp tốt đẹp.

Tuy nhiên nếu điểm lại tiến trình của chiến tranh VN thì người ta có thể thấy ngay rằng tất cảc biện pháp trên đều đã được quân dội Mỹ thi hành. Cả sư đoàn 3 TQLC Mỹ đã được sử dụng để phòng thủ vùng phi quân sự. Thế nhưng các trận đánh tại Cồn Tiên, Đại Độ và việc rút bỏ căn cứ Khe Sanh cho thấy những khó khăn của giải pháp vừa nói. Hai sư đoàn I Kỵ binh Không vận và 101 Dù đã nhiều lần tảo thanh thung lũng A-Shau, tuy nhiên trận núi Ấp Bia ( Hamburger Hill) vẫn là một nhắc nhở cho tính cách bất khả xâm phạm của thung lủng nầy. Hiệu quả của việc ngăn chận bằng Không quân, Biệt kích thì ai cũng đều biết. Sau cùng, thất bại của cuộc hành quân Lam Sơn 719 cho thấy việc đột kích sang Lào không phải là một điều dễ dàng.

Chiến thuật Lùng và Diệt không đúng; việc ngăn chận tại khu phi quân sự và đường mòn HCM không hữu hiệu; có lẽ quân đội Mỹ chỉ còn một giải pháp duy nhất. Giải pháp mà 42% các tướng lãnh Mỹ được hỏi ý kiến đã nghĩ rằng nên thực hiện tại VN. Đó là hành quân ra miền Bắc. Chuẩn tướng Anh S.Bidwell, chủ bút tập san RUSI ( Royal United Services Institute) khi phê bình về đường lối quân sự Mỹ đã viết (17): “Tất cả những sai lầm của Mỹ có thể tránh được bằng cách áp dụng những nguyên tắc chiến tranh cổ điển là dẹp những khó khăn từ gốc của nó…Trên thực tế nếu không thực hiện được vì lý do chính trị thì tốt hơn là đừng bao giờ tham chiến”.

Người VN cũng bảo rằng đập rắn thì phải đập ở đầu. Theo binh thư thì Clausewitz gọi đó là trọng tâm (centre of gravity). Tuy nhiên việc đánh chiếm Bắc Việt dễ nói hơn là thực hiện như P.M Dunn đã phân tích (18): “ Chúng ta hảy giả thử rằng Mỹ bắt buộc phải xâm chiếm Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Nếu vậy thì sao? Theo Clawsewitz, Mỹ cần một trận đánh lớn để tiêu diệt lực lượng CS và chiến thắng. Tuy nhiên CS có dành cho Mỹ một trận đánh sẵn sàng mà cả người Pháp và người Mỹ đã nóng lòng đi tìm trong nhiều thập niên qua không? Lịch sử cho phép suy diễn rằng Mỹ sẽ thất vọng và CSBV sẽ rút lui sâu hơn hoặc qua cả Trung cộng nơi mà họ có lợi điểm là các căn cứ an toàn. Người ta không đuà khi nói rằng không giống như Mỹ và hầu hết quân đội đồng minh, người lính CS có thể đi bộ xa. Quân đội Mỹ sẽ hoàn toàn tê liệt nếu không có xe cộ. Người dân miền Bắc VN có thể nào ì ra khi kẻ xâm lược đang đi vào quê hương cuả họ? Đồng minh Trung quốc của họ có đứng yên khi quân đội Mỹ xâm lăng một nước xã hội chủ nghĩa láng giềng? Trả lời những câu hỏi này đủ làm mềm lòng ngay cả những cá nhân diều hâu nhất tại Hoa Thạnh Đốn.”

Tiếp theo, Dunn đã dùng cuộc xung đột Việt Hoa năm 1979 để viện dẫn cho lý luận của mình. Trong cuộc xâm chiếm miền biên giới nầy, quân đội Trung cộng đã bị thiệt hại nặng mặc dù chỉ mới đụng độ với bộ đội điạ phương và du kích quân. Bộ đội chủ lực đóng quanh Hà Nội cũng như châu thổ sông Hồng sẽ sẵn sàng tiếp ứng khi cần thiết. Điều nầy có nghĩa là chiến tranh sẽ kéo dài, thiệt hại càng cao. Sau cùng giả thử là CSBV thua cuộc thì việc ấy với người CS chỉ là tạm thời. Trong khi đó thì Mỹ không thể nào chiếm giữ miền Bắc vĩnh viễn được. Ông kết luận (18):  Dẫu cho Clausewitz có sống vào thời đại chúng ta và là một tướng lãnh Mỹ trong chiến tranh VN thì có lẽ chính ông ta cũng sẽ thua trận. Lý thuyết của ông cần một mục tiêu, một đạo quân để tiêu diệt, người CS không cho ông các mục tiêu như vậy. Các nguyên tắc chiến tranh cổ diển gần như vô nghĩa”./.

Nguyễn Đức Phương (Anh Quốc)

Trong quyển Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập – Từ trận đầu (Ấp Bắc- 1963) đến trận cuối ( Sài gòn-1975) – Làng Văn Canada xuất bản năm 2001 (trang 334-343)

 Tài liệu tham khảo:

1-     L. Tô, Những người lính không chuyên chống Chiến dịch Junction City – Chung một bóng cờ, nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993.

2-     J. Pimlott, Vietnam-The Decisive Battles, Guild Publishing 1990.

3-     E.F. Murphy, Dakto, Presidio Press. California 1993.

4-     J. Reed, Junction City – War in Peace, Vol. 5, Orbis Puplishing Ltd 1983.

5-     E.M.  Bergurud, Red Thunder Tropic Lightning, Wesview Press, Oxford 1993.

6-     D.E.Ott, Field Artillery 1954-1973, US Government Pringting Office, Washington D.C 1975.

7-     W. H Morrison, The Elephan & The Tiger, Hippocrene Bools Inc.1990.

8-     W.C Wesmoreland, A Soldier Reports, Da Capo Press, 1989.

9-     R. Bonds, Ed, The Vietnam War, Salamander Books Ltd, 1981.

10-  D. Kinnard, The War Manager, Avery Publisihing Group Inc, 1995.

11-  C.V. Clausewitz, On War, Pinguin Classics, 1982

12-  S.Tzu, The Art Of War, Oxford Univ. Press, 1963

13-  L. Jinkun, Mao Zedong’s Art of War, Hei Feng Publishing Co., Hongkong 1993.

14-  B.H . Liddel Hart, Strategy, Meridian Pringting 1991.

15-  J.W McCoy, Secrets of the Viet Cong, Hippocrene Books Inc., New York 1992.

16-  B. Palmer Jr., The 25 Year War, Da Capo Press Inc, New York 1984.

17-  S. Bidwell, Modern Warfare: A Study of Men, Weapons and Theories, Allen Lane, London 1973

18- P. M Dunn, On Strategy Revisited: Clausewitz and Revolutionary War, the America War in Vietnam- Lesson, Lagacies, and Implications for Future Conflicts, L.E. Grinter & P.M.Dunn Eds., Greenwood Press Inc., Connecticut 1987.