Trần Kiêu Bạc (Hoa Kỳ)

Như tên gọi, thơ Tứ Tuyệt (poème de quatre vers, quadrian), là thể thơ bốn câu, tập trung vào một chủ đề, một cảm xúc hay một suy nghĩ. Đó là một bài thơ ngắn, rất riêng, với đặc trưng là không đổi ý, giữ nguyên một ý trước sau như một. Thơ Tứ Tuyệt được thể hiện qua các thể 3,4,5,6,7,8 chữ hay lục bát.

Các Thi Hào, Thi Bá thơ Đường có nhiều thơ Tứ Tuyệt như là một trong những điểm đặc sắc của Thơ Đường mà các bài Xuân Oán (Lưu Phương Bình), Khuê Oán (Vương Xương Linh), Tĩnh Dạ Lý (Lý Bạch), Phong Kiều Dạ Bạc (Trương Kế)…là những thí dụ điển hình.

Tôi rất thích thơ Tứ Tuyệt bởi lẽ thơ được trình bày một cách ngắn gọn, nhưng cũng vì ngắn gọn, việc làm thơ Tứ Tuyệt cũng gặp không ít khó khăn vì không dễ dàng diễn tả tập trung vào một ý, một cảnh, một tình, một tâm trạng chỉ qua bốn câu thơ.

Nghĩ cho cùng, trong thời đại kỹ nghệ tân tiến, người người chạy đua với thời gian, thì việc làm thơ và thưởng thức thơ Tứ Tuyệt là một ưu điểm nhờ sự nói ít mà gợi nhiều suy ngẫm cho người đọc. Lắm khi sự ngắn gọn lại chứa nhiều triết lý sâu xa và mới lạ. Thật không quá đáng khi người Trung Hoa vẫn gọi thơ Tứ Tuyệt là “TUYỆT CÚ” (câu tuyệt diệu). Cần nói là khi thưởng thức loại thơ nầy, người nghe, người đọc thường lặng im, như nín thở để cuối cùng, khi câu chót được lướt qua thì thở dài nhẹ nhõm như vưà tìm thấy một điều mới mẻ thú vị.

Xin dẫn ba bài thơ Tứ Tuyệt sau đây, một của Nhà Thơ đã thành danh từ lâu và hai của Nhà Thơ nữ trẻ trong và ngoài nước như sau:



RÉT ĐẦU MÙA NHỚ NGƯỜI ĐI PHÍA BỂ
 
Cái rét đầu mùa, anh rét xa em
Đêm dài lạnh, chăn chia làm hai nửa
Một đắp cho em ở vùng sóng bể
Một đắp cho mình ở phía không em!
Chế Lan Viên
 
BỘ ĐỒ TRÀ
 
Một cái bình sức vòi, bể nắp
Bốn cái cốc men tróc, phai màu
Chiếc khay nhôm đã rỉ mòn loang lổ
Cảm ơn Trời, chúng vẫn ở bên nhau!
Vạn Lộc (Tập thơ Hạt Bụi, NXB Hội Nhà Văn-VN)
 
XUÂN ĐỚI VŨ
 
Nhất chi sơn thôi thôi tồn vạn đại
Ngọc thiên hoa băng tuyết hận xuân giai
Bồng lai cung, loan phụng bất tái lai
Cửu hoa trướng, tịch liêu xuân đới vũ
 
MƯA XUÂN
 
Núi cao cao ngất ngàn năm
Nghìn hoa băng tuyết hận thầm tình xuân
Bồng lai tương hội xa xăm
Màn hoa ủ rủ âm thầm mưa xuân
Ngọc Thiên Hoa (Tập thơ Lỡ Một Thời Xanh Xưa, NXB Chicago-USA)
TỨ TUYỆT TRẦN KIÊU BẠC
 
NHÌN LẠI
Cuối muà còn một chút mưa rơi
Hạt nhớ, hạt thương, hạt ngậm ngùi
Mai sau có trầm mình trong nắng
Vẫn nhớ mưa buồn rớt lẻ loi
 
TẠ
Tạ ơn đời rót máu về tim
Tạ tình em khóc ướt vai mềm
Tạ từ đêm thức cho trời sáng
Tạ lòng nguyệt quế tỏa hương quen.

KHÔNG ĐỀ
Không giờ, không thấy số không
Đồng hồ đã vẽ hai vòng mười hai
Đêm không em để đêm dài
Không giờ, không cả lòng ai đợi chờ!
 
LÃNG MẠN ƠI, CON MUỖI
Nằm nghiêng em dáng nhỏ vai mềm
Muỗi đến vo ve trắng cả đêm
Một chút ngực phơi ngoài áo mỏng
Nhìn hoài muỗi chẳng muốn bay lên
 
TRÊN VẠT ÁO DÀI
Ước chi trên vạt áo dài
Có ghi tất cả những bài thơ tôi
Để khi vén áo em ngồi
Thơ rung từng chữ từng lời mộng du.
 
XA MẸ
Cầm theo ve Nhị Thiên Đường
Dầu còn phân nửa, tình thương Mẹ đầy
Xa quê đếm chuổi ngày dài
Ve dầu nhỏ xíu giữ hoài bên lưng.
 
CÚC NỞ HOA
Trồng ở đầu hiên đơn độc Cúc
Mơ hoài Cúc chẳng nở cho ta
Bụt bảo: Con làm thơ Tứ Tuyệt
Cúc Vàng cảm động sẽ ra hoa.
 
THƠ VUI TRẦN KIÊU BẠC
Khi buồn lại muốn thơ vui,
Vui trong ánh mắt, ngậm ngùi trong tim

ĐAU RĂNG
Không khổ nào hơn khổ đau răng
Miệng muốn cười tươi, mặt cứ nhăn
Phía nọ phình to như trái táo
Bên nầy sưng lớn tựa củ năng
Thịt bò, phở tái không thèm nếm
Cá lóc, gà quay chẳng muốn ăn
Nhiều khi cũng thích làm Hăng Rết
Chỉ sợ người cười bởi Hết Răng!
 
ĐAU BỤNG
Nằm ôm cái gối cứ ôm hoài
Đau bụng, bệnh nầy chẳng giống ai
Ăn chẳng dám ăn khi bụng đói
Ngủ đành không ngủ lúc canh dài
Bụng đau như đụng nhằm mã tấu
Lưng mỏi tựa dần bởi dao phay
Tân dược, Đông y dùng không hết
Thôi đành rên siết điệu Nam Ai!
 
ĐAU MẮT
Mắt giúp ta trông rõ cuộc đời
Cớ sao sưng húp đỏ như rươi?
Bên nọ ghèn ra như sửa đặc
Phía nầy nước chảy tựa cam tươi
Sách vỡ, kệ kinh nhìn không thấy
Khách khứa, thân nhân ngó chẳng cười
Nằm đêm không muốn mau trời sáng
Vì ngày cũng tợ tối ba mươi!
 
DỊ ỨNG (ALLERGY)
Ngày Xuân hoa nở khắp trần gian
Dị Ứng lan tràn khắp Bắc Nam
Ách xì, nghẹt mũi buồn không ngủ
Ngứa tai, đỏ mắt chán quên ăn
Lúc ở quê nhà luôn nhàn nhã
Giờ ra ngoại quốc mãi gian nan
Thuốc Tây, thuốc Bắc năng dùng đến
Mà sao Dị Ứng chẳng đầu hàng?
 
(Thi sĩ Trần Kiêu Bạc gốc người Gò Dầu-Tây Ninh, hiện nay định cư tại Hoa Kỳ)