Xuân sắp về, Tết sắp đến. Chúng ta nghĩ đến quê hương và thấy lòng mình rào rạt:

Xuân đất khách

thắp nén hương trầm

thương về Sàigòn cũ

Tết quê người

cạn chung trà cúc

nhớ lại Việt Nam xưa

Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, cũng như mọi năm, cuối năm nay, chúng ta ân cần tiễn đưa người bạn cũ và hân hoan tiếp đón người bạn mới:

Đinh Hợi ra đi

tiễn đưa bác Heo Già Trư Bát Giới

Mậu Tý trở về

đón mừng chàng Chuột Trẻ Micky Mouse.

Trong không khí ấm áp của tình dân tộc, khi Tết về nơi đất khách, chúng tôi xin được cống hiến vài mẩu chuyện sau đây:

-Xuân về Tết đến

-Thương và yêu

-Vài câu chuyện Tình Thương

-Trồng niềm tin cho con tim đổi mới.

 I-XUÂN VỀ TẾT ĐẾN

Người Việt chúng ta thường nói:”Xuân về Tết đến” và đồng hóa “ngày Xuân” với “ngày Tết Nguyên Đán”.

Thật ra, ở các nước thuộc Bắc Bán Cầu thì ngày Tết ở vào cuối mùa đông với những cơn gió lạnh u-buồn, còn những nước thuộc Nam Bán Cầu thì “ngày Xuân về” ở cuối mùa hè với tiếng ve sầu rỉ rả. Người Bắc Bán Cầu nhắp chén trà sen và chờ đợi Xuân về trong cánh én vui tươi, trong nắng vàng ấm áp. Người Nam Bán Cầu cạn chung trà cúc bâng khuâng trước cảnh hạ đi thu đến trong tiếng gió vi-vu, trong mây buồn u-ám.

Người con Phật, ở khắp năm châu không phân biệt Nam hay Bắc Bán Cầu lúc nào cũng cảm nhận cái tươi mát của Từ Bi Trí Dũng và ý thức cái khổ đau vì Sân Hận Si Tham. Chúng tôi còn nhớ rõ trong khoảng thời gian hơn mười năm liên tiếp kể từ năm 1983 mỗi lần Xuân sắp về, Tết sắp đến, chúng tôi có niềm vui làm ít câu đối Tết, rồi đến chùa Pháp Bảo trình Hòa thượng Thích Bảo Lạc- lúc bấy giờ là Thượng tọa-những câu đối Tết nói lên tình thường quê hương dân tộc. Những câu đối nầy được viết trên biểu ngữ lớn, căng ra trong khuôn viên chùa, để đồng hương và Phật tử về chùa lễ Phật thấy ấm áp tình thương, lúc Xuân về nơi đất khách. Sau đây là vài câu đối- trong số nhiều câu- đã được chọn lựa:

Xuân về thương nước, thương Hồng Lạc

Tết đến nhớ chùa, nhớ Tổ Tông

Nhớ Tổ Tông dày công dựng nước

Thương mái chùa dãi nắng dầm mưa

Nhớ Tổ Tông, thương mái chùa và lắng nghe tiếng gọi của hồn thiêng sông núi, thì thương hết muôn loài cỏ cây và đất đá, thì thương kính Cha Trời, Mẹ Đất, thì đem hết nhiệt tình bảo vệ sinh môi.

 II-THƯƠNG VÀ YÊU

Người Việt chúng ta có hai từ THƯƠNG và YÊU, trong lúc người Pháp , người Anh, người Tàu… chỉ dùng một từ:

-Người Pháp dùng từ AIMER (Je t’ aime / Je vous aime).

-Người Anh dùng từ LOVE (I love you)

-Người Tàu dùng từ ÁI (Âm Hán Việt: Ngô/ Ngã ái nhĩ)

hoặc OI (Âm Quảng Đông: Ngộ oi nị)

Đối với người Việt THƯƠNG và YÊU có khi dùng lẫn lộn nhau như:

-Thương nước hoặc yêu nước

-Thương cha mẹ hoặc yêu cha mẹ

-Vợ chồng thương nhau hoặc yêu nhau…

Nhưng thật ra THƯƠNG và YÊU thường được dùng với nghĩa khác nhau. Theo thiển ý, chúng ta nên phân biệt THƯƠNG và YÊU:

-Chúng ta nên dùng từ THƯƠNG để nói: Thương ông bà cha mẹ con cháu, thương nước, thương nhà và

-Chúng ta nên dùng từ YÊU để nói: Yêu cô gái mỹ miều và muốn dìu cô trong đêm vắng, yêu một chàng “nhà giầu, học giỏi, đẹp giai”, hoặc không yêu nhau mà lấy nhau vì tiền…

Những cảm xúc liên hệ tới sắc dục, hoặc dính líu với ái tình, thì nên dùng từ YÊU: Lúc nhỏ, tôi sống ở thôn quê (thuộc tỉnh Tây Ninh) nơi đó, đồng hương tôi chỉ dùng từ THƯƠNG và không có ai nghe, ai nói YÊU cả. Từ YÊU đến với tôi lần đầu tiên trong quyển:”Quốc Văn Giáo Khoa Thư”. Tôi không vui khi được dạy rằng YÊU có nghĩa là THƯƠNG. Thật tình tôi chỉ muốn THƯƠNG và được thương. Tôi không cần và không muốn nghe YÊU hoặc nói YÊU.

Lớn lên tôi đọc nhiều sách, nhiều tiểu thuyết- hầu hết tác giả là người Bắc -dẫy đầy những chữ YÊU làm cho tôi rất khó chịu. Tôi có cảm tưởng- tôi không dám đề quyết- tôi có cảm tưởng từ YÊU xuất phát từ những người miền Bắc. Người miền Nam thì thật thà chân chất với tình THƯƠNG.

Như chúng ta được biết, có một tiểu thuyết gia lấy bút hiệu TCHYA ngụ ý TÔI CHẲNG HỀ YÊU AI. Chẳng hề yêu ai để sống an lạc thảnh thơi và giúp cho chúng sanh an lạc thảnh thơi. Chẳng hề yêu ai mà thương hết muôn loài.

Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn nghĩ rằng có thể dùng từ THƯƠNG để thay thế từ YÊU, trong mọi trường hợp, nhưng tuyệt đối không nên dùng từ YÊU để diễn tả tình THƯƠNG, không liên hệ tới sắc dục, không dính líu với ái tình. Đối với chúng tôi, thật tình mà nói, nếu chỉ dùng từ THƯƠNG mà bỏ đi từ YÊU thì cũng không sao cả, mà còn hay hơn dùng từ YÊU để diễn tả tình THƯƠNG.

Có những câu ca dao Việt Nam trong đó từ THƯƠNG đã được dùng rất dễ thương để diễn tả tình YÊU giữa trai gái:

-Chẳng hạn như:

“Một thương tóc bỏ đuôi gà

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền

…..

Mười thương con mắt hữu tình với ai”

-hoặc lẳng lơ liều lĩnh:

”Thương nhau cởi áo cho nhau

Về nhà mẹ hỏi- Qua cầu gió bay”

-hoặc bồng bột nhớ nhung:

Đói lòng ăn nửa quả sim

Uống lưng bát nước, đi tìm người thương”

-hoặc kiêu hùng dõng mãnh:

Thương nhau năm sáu núi cũng trèo

Bảy tám sông cũng lội

Chín mười đèo cũng qua”.

Chúng tôi nghĩ rằng nếu không thương nhau mà chỉ yêu nhau, thì cặp trai gái nầy không tài nào vượt nhiều núi, băng nhiều sông, mà có giỏi lắm thì cũng chỉ đưa nhau đến lưng chừng một sườn núi để rả rích yêu đương, để rồi sau đó:

“Anh đi đường anh, tôi đường tôi

Tình nghĩa đôi ta có thế thôi”

Tình thương thì dứt khoát phải chân thành, gắn bó, còn tình yêu- nhứt là tình yêu trong văn minh vật chất ngày nay- thì đưa đến ly dị dễ dàng, đưa đến phản bội như chơi.

Gần đây có một chuyện rất lạ đã xảy ra: Hội Chợ Ly Dị (Divorce Fair) được tổ chức ở Vienna, thủ đô Áo quốc. Những người đã yêu đương nóng bỏng nhất để rồi nửa đường gãy gánh, sẽ đến Hội chợ nầy để quên đi cái khổ lụy vì YÊU và dứt khoát LÀM MỚI LẠI (New Beginning), cuộc tình yêu mới, nhưng thật ra, chỉ lập lại những cái trò cũ mèm trong vô lượng kiếp lầm mê.

Theo thống kê mới đây, thì ở Áo quốc tỷ lệ ly dị là 48,9%. Riêng ở Vienna thì tỷ lệ nầy lên đến 65,9%. Như vậy, cứ mỗi ba cặp vợ chồng-đã yêu nhau đắm đuối, đã thề thốt hứa hẹn nhiều lời-thì có hai cặp dứt khoát không muốn nhìn mặt nhau.

Ngày xa xưa, ở vào thời khuê môn bất xuất, có một cô gái ở tuổi cập kê, tài sắc tuyệt vời. Thừa lúc cha mẹ và các em vắng nhà, cô nàng âm thầm chui hàng rào đến thăm người tình. Cô gái nầy là Thúy Kiều, và Nguyễn Du tiên sinh đã diễn tả cuộc “đi chui” cực kỳ liều lĩnh của cô ta bằng hai câu thơ hùng dũng:

“Xắn tay mở khóa động đào

Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai”.

Ôi! cái nàng làm sao mà gan đáo để! dám xắn tay mở khóa để vào động thiên thai, mà động thiên thai là nhà của người tình, Kim Trọng. Hai bên chuyên trò, thề thốt suốt ngày. Khi trời sắp tối, nàng phải trở về nhà. Cha mẹ và các em chưa về, không biết sẽ về bất cứ lúc nào- trong đêm tối người đẹp mỹ miều “đi chui” một lần nữa, và đột xuất vô cùng ngoạn mục và dõng mãnh trong lúc chàng Kim tựa án thiu thiu, nửa mê nửa tỉnh:

Nàng rằng: khoảng vắng đêm trường

Vì hoa, nên phải đánh đường tìm hoa

Bây giờ rõ mặt đôi ta

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao!”

Trời đất quỷ thần ơi! Người đẹp ở tuổi cập kê, ở thời khuê môn bất xuất, trong đêm tối âm-u, đã chui hàng rào để tìm ”đóa hoa Kim Trọng” (Bọn mày râu ơi, hãy mau mau thức tỉnh: Mình chính là đóa hoa tuyệt vời của phái yếu).

Chị cả ơi, chiêm bao là cái chắc rồi. Trong suốt mười lăm năm khổ đau “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, chị đã để cho:

Ma đưa lối quỉ đưa đường

Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”.

bây giờ thì chị đã thấy rõ tình là mộng ảo, ái ân là khổ lụy sầu thương, chị đã say mê cái anh chàng mù quáng trước sắc dục:

Thúc Sinh quen nết bốc rời

 Trăm nghìn đổi một trận cười như không”.

để rồi bị Hoạn Thư đánh ghen một trận tơi bời hoa lá.

Sau đó, chị lại đắm chìm trong cuộc tình với con người hùng mang dòng máu hiên ngang, muốn làm cách mạng để lật đổ vương triều, con người:

Đội trời đạp đất ở đời

Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông”

để rồi, chị cả ơi, chính con người hùng Từ Hải, con người:

Giang hồ quen thú vẫy vùng

Cung đàn nửa gánh, non sông một chèo”

đã sa vào cái bẫy sập, đã đam mê con người đẹp Thúy Kiều. Chị cả ơi, ngoài chị cả ra, hãy thành thật mà nói “ai xui được anh hùng cởi giáp”, để rồi bị kẻ gian manh đê tiện- được mệnh danh là “Quan Tổng Đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến”-sát hại mà chết đứng giữa trời!

Người ta thường bảo Từ Hải quy hàng Hồ Tôn Hiến, nhưng chị cả ơi, chị biết rõ và tôi cũng biết rõ: người hùng Từ Hải đã quy hàng sắc dục- dù là sắc dục trong tình nghĩa vợ chồng- mới tiêu tan sự nghiệp anh hùng trong thảm cảnh thần sầu quỷ khóc.

Chị cả ơi, tôi rất mừng vì, sau mười lăm năm trôi lăn trong sắc dục chị đã hồi đầu thị ngạn, đã trở về với Phật tâm:

“Mùi thiền đã thấm muối dưa

Mầu thiền ăn mặc, đã ưa nâu sồng

 Sự đời đã tắt lửa lòng

Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi”.

Các bạn ơi, chúng ta thấy rõ vì sao Đức Phật không cho phép các đệ tử xuất gia lấy vợ hoặc lấy chồng:

-Trưởng tử Như lai phải dùng gươm trí tuệ chặt đứt si tham sân hận trên đường tự độ và độ tha.

-Sắc dục-dù là sắc dục trong tình nghĩa vợ chồng-sẽ làm suy tàn cái chí nguyện và sự nghiệp vô cùng to lớn: Tác Như lai sứ, hành Như lai sự, nghĩa là làm sứ giả của Phật và thực thi sự nghiệp của Phật, mà sự nghiệp của Phật là “duy tuệ thị nghiệp”, là cứu độ muôn loài.

 

III-VÀI CÂU CHUYỆN TÌNH THƯƠNG

Chúng tôi đã tách rời tình yêu và xin được kể vài câu chuyện Tình Thương.

1-Câu chuyện thứ nhất: LỘC để làm gì, ÁI mới hay.

Cách đây khoảng bốn năm, tôi có đến cửa hiệu “Target” và ghé qua nơi bày bán ly tách. Có những cái tách bằng sứ trên đó có ba chữ Hán: PHƯỚC-LỘC-THỌ. Tôi chỉ nhìn qua rồi xem những tách khác vì từ lâu tôi không thích cái thời trang nhốt ba ông Phước-Lộc-Thọ trong tủ kiếng. Nhưng bỗng nhiên, tôi cầm lấy một cái tách đưa lên xem vì tôi muốn thưởng thức cái nghệ thuật viết chữ Tàu.Tôi rất ngạc nhiên vì ba chữ Tàu (chữ Hán) viết từ trên xuống dưới cái tách (loại mug), không phải là PHƯỚC- LỘC-THỌ mà là THỌ-PHƯỚC-ÁI. Tôi mỉm cười sung sướng vì chữ LỘC được thay thế bằng chữ ÁI.

LỘC có nghĩa là những vật dụng do người trên cấp cho người dưới, do vua cấp cho các quan. “Cao quan hậu lộc” có nghĩa quan lớn được cấp nhiều lộc”.

PHƯỚC-LỘC-THỌ thường được dịch ra tiếng Anh là HAPPINESS-PROSPERITY-LONGEVITY. Thật ra, chữ Lộc mà dịch Prosperity thì không đúng, nhưng có lợi trong việc bán ba ông Phước-Lộc-Thọ.

Dù được dịch bằng cách nào đi nữa thì chữ LỘC-cái gì thuộc về vật chất- được thay thế bằng chữ ÁI là tuyệt vời. Khi Phước-Lộc-Thọ được thay thế bằng Thọ-Phước-ÁI thì ta tách ra khỏi cái vật chất tầm thường (LỘC) và thay thế vào đó cái tình thương (ÁI).

Thọ-Phước- Ái có nghĩa là:

-Sống lâu, hưởng hạnh phúc do Tình thương, hoặc

-Tình thương tạo hạnh phúc để sống lâu.

Tôi sung sướng, mua hai cái tách (mug) có ba chữ Thọ-Phước- ÁI: một cái dùng để bàn chải đánh răng, một cái dành để súc miệng. Như vậy, trước khi đánh răng súc miệng, tôi hát nho nhỏ:

Ngô bất cầu lộc

Ngô ái tha nhân

Ái nhân đắc phước

Cầu lộc khổ thân.

Tôi có đứa cháu ngoại trai, Ethan rất thông minh và dễ thương. Từ khi lên bốn tuổi, được dạy mỗi lần gặp ông Ngoại, bà Ngoại thì nói:”Thưa Ông Ngoại, thưa Bà Ngoại”. Nhưng cho đến nay, nó đã sáu tuổi, trong suốt hai năm trời- và còn dài dài về sau-không bao giờ nó nói:”Thưa ông Ngoại, thưa bà Ngoại” mà nó nói:”Thương ông Ngoại, thương bà Ngoại” rồi ôm ông Ngoại, bà Ngoại mà hôn.

Tôi sung sướng nghĩ rằng khi lên bốn tuổi, bé Ethan đã làm cách mạng tình thương: không gò bó trong THƯA và TRÌNH, sống tươi mát với THƯƠNG và HÔN.

2-Câu chuyện thứ hai: Cái gì mạnh nhứt.

Đã lâu rồi, tôi có mua rất nhiều sách hình màu viết bằng chữ Anh dành cho thiếu nhi, để cho các con tôi trau dồi Anh ngữ và mở mang kiến thức. Trong những quyển sách dành cho thiếu nhi nầy, có một câu chuyện mà tôi nhớ mãi và các con tôi cũng nhớ mãi. Câu chuyện như sau:

Thuở xa xưa có một vị Tướng lỗi lạc, khi về hưu được nhà vua cấp cho một biệt thự khang trang và bốn chú lính để bảo vệ và giúp việc.

Một ngày kia, vị tướng gọi bốn chú lính đến và nói rằng:”Tôi có một câu để đố các chú, chú nào đáp trúng thì sẽ được thưởng. Câu đố như sau: Trên đời nầy, cái gì mạnh nhứt?

Chú lính đầu tiên hăng hái trả lời:”Thưa Đại tướng, cây súng mạnh nhứt, vì nhờ nó mà ta chiến thắng quân thù”.

Chú lính thứ hai tỏ ra hăng hái hơn:”Thưa Đại tướng, người lính mạnh nhứt vì nếu không có người lính cầm súng trong tay, xông pha trận mạc thì làm sao chiến thắng quân thù?”

Chú lính thứ ba hãnh diện nói rằng:”Thưa Đại tướng, chính Đại tướng mới là mạnh nhứt vì Đại tướng đã vào sanh ra tử với đạo quân dũng cảm nhứt và đạt chiến thắng vẻ vang nhứt. Có nhiều lính mà không có Đại tướng thì không làm gì được”.

Chú lính thứ tư ôn tồn và chậm rãi:”Thưa Đại tướng, con nghĩ rằng tình thương là mạnh nhứt vì chỉ có tình thương mới chiến thắng hận thù, mới không còn chiến tranh, do đó muôn loài được an vui hạnh phúc”.

Vị Tướng già nhìn bốn chú lính thân thương rồi chẫm rã nói:”Tất cả bốn chú đều hăng say bảo vệ quê hương, nên tất cả đều được phần thưởng như nhau. Tuy nhiên, câu trả lời đúng dứt khoát phải là: TÌNH THƯƠNG LÀ MẠNH NHỨT.

3- Câu chuyện thứ ba: Ai và Ai

Trong từ ngữ Việt Nam, chúng ta có rất nhiều đại danh từ: Anh chị, ông bà, chú bác, cô cậu, dì dượng, mợ thím, mầy tao, mi tớ, hắn y… nhưng có một đại danh từ vô cùng độc đáo, ý nghĩa mênh mang. Đó là từ AI.

a/ Từ Ai được tạm dịch ra tiếng Pháp là QUI, QUICONQUE, CELUI  QUI…

-Qui êtes-vous?  (Ông là ai?)

-Qui m’aime me suive (Ai thương tôi thì theo tôi)

-Quiconque m’a vu me déteste (Bất cứ ai đã thấy tôi, thì không ưa tôi)

Nhưng nhiều lúc, những từ trên đây không thể dịch là AI, chẳng hạn như: Femme qui aboie ne mord pas.  (Đàn bà sủa thì không cắn).

Có một câu chuyện kể rằng:

Thuở xưa, trong quân đội Pháp có một chú lính Việt Nam bị một Thượng sĩ Pháp quát mắng rất là xấc xược. Chú lính tức giận quá muốn nói rằng:”Ai cũng như ai, tôi không phải là thằng hèn, tôi không ngán ai hết”, nhưng vì yếu kém về tiếng Pháp, nên chú lính nói “tiếng Tây bồi”:

”Qui comme qui. Moi pas comme qui. Moi pas peur“

b/ Từ AI được dịch tiếng Anh là: WHO, WHOSE, WHOM…

Cũng như các từ thuộc tiếng Pháp nói trên các từ tiếng Anh cũng chỉ tạm dịch và có những trường hợp không thể dịch là AI.

c/ Từ AI được tạm dịch ra tiếng Hán là THÙY.

-Nhân sanh tự cổ THÙY vô tử? (Nguyễn Công Trứ): Từ xưa đến nay, có ai mà không chết?

-Minh nguyệt lạc THÙY gia? (Lý Bạch):

Trăng sáng rụng nhà ai?

Từ THÙY, Hán Việt có vẻ gần giống từ AI của Việt Nam, nhưng từ AI mênh mông và phong phú hơn nhiều. Vài thí dụ sau đây cho chúng ta thấy cái bao la, bát ngát của từ AI:

-Ai ơi, chớ vội khoe mình

            -Ai về nhắn với Chu Công Cẩn

Thà mất lòng anh được bụng chồng

            -Ai giận ai, đễ cho ai sầu khổ?

            -Nhớ ai, ai nhớ, bây  giờ nhớ ai?

 IV-TRỒNG NIỀM TIN CHO CON TIM ĐỔI MỚI

Trước khi kể câu chuyện “Trồng niềm tin”, tôi xin đọc để các bạn cùng nghe một bài thơ ngắn mà tôi làm đã lâu lắm rồi, bài thơ nói về tình thương qua từ AI độc đáo của Việt Nam:

Dẫu rằng ai có thực tài

Đố ai giải được chữ AI rõ ràng

Chữ AI đáng giá ngàn vàng

Ai thương tiếng Việt, ngỡ ngàng chăng ai?

Vì ai, ai phải xa ai

Vì ai, ai phải trở về với ai?

Nước ai thống khổ bi ai

Nước ai chờ đợi những ai anh hùng?

Nước ai xa cách ngàn trùng

Nước ai nghèo đói, khốn cùng hỡi ai?

Ai thương ai nhớ chăng ai

Ai thương, ai nhớ ai về với ai.

Về với AI là về với người mình thương nhứt, về với quê hương nghèo khổ, về với dân tộc lầm than.

Về với AI, như vậy, là về với THƯƠNG. Do đó, tôi có ý muốn sửa lại câu cuối của bài thơ như sau:

Ai thương, ai nhớ, thì về với THƯƠNG.

Nhưng phải làm sao để về với THƯƠNG

Xin mời các bạn nghe câu chuyện sau đây:

Vào tháng 8 năm 1975, trong trại tù tẩy não Long Thành, anh chị em tù nhân đã vô cùng khổ nhọc trong nắng lửa mưa dầu, trong đói rách lầm than để: “vinh quang lao động”.

Trại tù được chia ra nhiều nhóm để học tập. Một bửa kia, có chú cán bộ bệ-vệ đến “tham quan” nhóm của chúng tôi, gồm có khoảng 30 người (năm nhóm nhỏ họp lại).

Chú cán bộ hiu hiu tự đắc bảo rằng:”Tôi biết trong nhóm các anh chị phải có một người biết sáng tác nhạc. Tôi muốn ngày mai nầy các anh chị có một bài ca hùng tráng để cùng nhau ca hát mà lao động hăng say.

Anh chị em trong nhóm biết một anh nhạc sĩ có vẻ thư sinh, cao và gầy, nước da trắng đã ngã ra màu xanh vì trời đất nổi cơn gió bụi.

Tội nghiệp cho anh, vốn là ca sĩ kiêm nhạc sĩ, chỉ có 24 tiếng đồng hồ để sáng tác một bài ca hùng tráng cho đúng điệu “lao động vinh quang”.

Sáng hôm sau, trời nắng ấm, nhóm ba mươi người chúng tôi tập hợp để hát.

Người ca sĩ kiêm nhạc sĩ nói chậm rãi:”Các anh chị nghe tôi hát trước một lần. Xong rồi tôi sẽ hát từng câu một, các anh chị hát theo. Bài ca nói lên tình thương và rất dễ hát…”

Anh bạn thân thương bắt đầu hát với giọng trầm hùng thu hút người nghe:

“Trồng khoai, trồng đậu

            Trồng tình thương trong tâm hồn người

            Trồng niềm tin cho con tim đổi mới.

Dù nắng mưa, ta không sờn lòng…”

Nhóm chúng tôi đã học từng câu một và đã thuộc lòng bài hát ngắn và… cất tiếng ca nghe cũng “xôm tụ lắm”.

Sau đó, anh chị em được giải tán để làm lao động trong ánh nắng gay gắt.

Khoảng 11 giờ sáng, chú cán bộ hãnh diện        trong bộ “treillis” xùng xình (quân phục tác chiến nhập từ Trung quốc), trịnh trọng bước đến. Nhóm chúng tôi được tập họp lại, mệt nhoài vừa đói vừa khát vì:

Nắng phỏng vai gầy, ran ngực lép

Nắng queo tóc trắng, cháy lông mày.

Anh bạn thân thương của chúng tôi bắt đầu hát với giọng trầm hùng:

Trồng khoai trồng đậu

Trồng tình thương trong tâm hồn người

            Trồng niềm tin cho con tim đổi mới

            Dù nắng mưa ta không sờn lòng…”

Sau đó tất cả nhóm chúng tôi cùng hát, nhưng vì:

-anh em quá mệt mỏi

-có kẻ muốn ca giọng yếu xìu để chọc tức cán bộ cho bõ ghét

-nhưng nhứt là vì bài ca từ đầu đến cuối chỉ có tình thương và niềm tin, không hề đá động đến “lao động vinh quang”, đến “chiến thắng vĩ đại”…cho nên chú cán bộ hiên ngang như… “người Hà-Lội” phải cất giọng “cách mạng anh hùng” mà quát tháo: ”Dẹp đi, dẹp đi… các anh chỉ biết hát hò theo Mỹ Ngụy… nhu nhược như thế, biết bao giờ mới được trở về với nhân dân…”

Thưa các bạn, đây là lời đe dọa nặng nề và láu cá nhứt vì ”trở về với nhân dân là ra tù tẩy não”, không trở về với nhân dân là tẩy não mút mùa. Người bị đe dọa nhiều nhất, lẽ cố nhiên là anh bạn ca sĩ hiền nhứt và dễ thương nhứt.

Các bạn ơi, sau bao nhiêu thăng trầm biến đổi, bao nhiêu khổ đau chồng chất,  bao nhiêu tủi nhục lầm than cho quê hương dân tộc, Xuân lại về, Tết lại đến, tôi nhớ đến người bạn ca sĩ năm xưa: dáng anh cao và gầy gương mặt anh trắng và xanh trong mưa dầu nắng lửa, trong cuộc đổi đời tang tóc điêu linh.

Tôi xin được nói chuyện với người bạn thân thương của chúng ta:

Anh ơi, ba mươi hai năm đã trôi qua, bây giờ anh ở đâu, còn sống hay đã chết? Anh hãy về đây, cùng tôi uống chén trà Xuân. Cái khổ đau tủi nhục chốn lao tù vẫn nhen nhúm tình thương trong ánh mắt hiền hòa, trong giọng ca truyền cảm của anh. Tôi muốn nghe anh hát lại bài hát cũ. Hát đi anh, tôi lắng tai nghe:

Trồng khoai trồng đậu

Trồng tình thương trong tâm hồn người

Trồng niềm tin cho con tim đổi mới

Dù nắng mưa ta không sờn lòng…”

Anh ơi, trong suốt ba mươi năm nội chiến điêu tàn, niềm tin của dân tộc chỉ giảm sút một phần nào thôi, nhưng chỉ vài tháng sau ngày hòa bình thì niềm tin của dân tộc hoàn toàn sụp đổ. Điều nầy, ai cũng biết, nhưng biết để rồi buông xuôi thả lỏng.

Con tim Việt Nam đã rã rời khô héo, đã mất hết niềm tin trong cuộc sống khốn cùng, đầy dẫy bất công, suốt ba mươi hai năm dài.

Anh ơi, đã đến lúc chúng ta không thể làm ngơ.

Đã đến lúc chúng ta phải thiết tha kêu gọi các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các bậc thiện trí thức ở khắp nơi hãy ngồi lại với nhau để tìm cho được con đường giải cứu quê hương, hãy ngồi lại với nhau để tìm cho được phương cách:

Trồng niềm tin trên khắp nẻo quê hương

Trồng niềm tin cho con tim đổi mới.

 

Minh Đăng (Cuối năm Đinh Hợi)