MINH NGUYÊN

Hơn sáu mươi năm qua, người Việt nam chúng ta (nhất là các nhà giáo bậc tiểu học và trung-học dạy môn sử ) đã dùng bộ “Việt nam sử lược”(VNSL) của cụ Trần Trọng Kim làm sách gối đầu. Thật vậy, sách giáo khoa cho các lớp bậc trung học tại miền Nam (chúng tôi chỉ nói về các sách ở bậc trung học, và cũng chỉ nói tại miền Nam, vì miền Bắc có nền giáo dục riêng của chế độ cộng sản {xã hội chủ nghĩa}, và theo quan điểm duy vật sử quan, nên họ dạy lịch sử theo bài vở khác với chương trình dạy sử tại miền Nam), phần nhiều các soạn giả đều dùng bộ VNSL để khai triển hay tham chiếu khi soạn sách giáo khoa cho bậc trung học.

Chúng tôi thấy rằng hiện nay bộ VNSL không còn thích hợp với nhu cầu sử học, vì bộ sử  ấy được soạn từ lâu, (bản in đầu tiên xuất bản năm 1920) và các sự kiện lịch sử trong bộ VNSL dừng lại ở năm 1902. Cho đến nay, chúng ta có rất nhiều bộ sử  được viết tại miền Nam hay tại hải ngoại; nhưng xem ra, khi cần tham chiếu các biến cố lịch sử cũ, các nhà giáo tại hải ngoại vẫn dùng bộ VNSL hơn là các bộ sử mới! Chúng tôi không hiểu tại sao? Có lẽ vì các bộ sử viết sau bộ VNSL quá “đồ sộ” có phần bất tiện cho việc tra cứu, hoặc vì một vài tác giả viết sử vì một lý do nào đó chứ không có mục đích viết lịch sử. Tưởng cũng phải nói thêm rằng hiện nay, tuyệt đại đa số các nhà giáo tại hải ngoại dạy tiếng Việt và nhất là dạy Việt sử thì cũng chỉ là những nhà giáo “làm nghề tay trái!” nên không có nhiều thì giờ để làm việc nhiều hơn trong công việc dạy dỗ.

*

Riêng về bộ VNSL của cụ Trần Trọng Kim, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên cẩn thận khi cần dùng đến vì các lý do sau đây:

1.-Như ở trên đã nói, bộ VNSL được viết từ lâu, lúc bấy giờ các công trình biên khảo về lịch sử nước ta còn rất ít. Hơn nữa, lúc bấy giờ cụ Trần chỉ tham khảo các tài liệu bằng Hán văn và Pháp văn. Về phần lịch sử Việt nam, thời kỳ ấy chúng ta chỉ có hai bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” (viết tắt: Toàn thư) và “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (viết tắt: Cương mục). Cả hai bộ sử này vào thời ấy còn ở dạng chữ Hán, vài chục năm sau mới có người dịch ra chữ Việt. Bộ “ Toàn thư ” viết xong vào cuối thế kỷ thứ 15, có tham chiếu bộ “ Đại Việt sử Ký” (viết tắc: ĐVSK) của ông Lê văn Hưu viết xong năm 1272, nhưng nay bộ ĐVSK không còn. Bộ “Cương mục” viết xong vào khoản năm 1883. Đó là hai bộ chính sử, còn các bộ dã sử như “Đại Việt sử lược” (khuyết danh) , “An nam chí lược” của Lê Tắc v.v…cũng chỉ được viết từ thế kỷ thứ 13 về sau. Như vậy khi viết các biến cố lịch sử Việt nam trước thế kỷ thứ 13, nếu không tìm thấy trong hai bộ “Toàn thư” hay “Cương mục”, cụ Trần chỉ có thể dựa vào các sử sách của Trung hoa. Ngay cả ở hai bộ “Toàn thư” và “Cương mục” muốn viết về các sử kiện từ thời lập quốc, nếu không dùng sử sách Trung hoa thì chỉ có cách dựa vào các truyền thuyết hay chuyện truyền khẩu. Mà theo “truyền thống” thì truyền thuyết hay văn chương truyền khẩu không khả tín bằng sách vở với giấy trắng mực đen!

Chúng tôi xin đưa ra một vài ví dụ cụ thể sau đây: Thí dụ thứ nhất xin lấy ngay trong VNSL.

“ Về đầu thế-kỷ đệ-nhất có hai người sang làm thái-thú trị dân có nhân-chính. Một người tên là Tích Quang làm thái-thú Giao-chỉ, một người tên là Nhâm-Diên làm thái-thú quận Cửu-chân.

“Tích Quang sang làm thái-thú quận Giao-chỉ từ đời vua Bình-đế nhà Tây-Hán, vào quãng năm thứ hai thứ ba về thế-kỷ đệ-nhất. Người ấy hết lòng lo việc khai-hoá, dạy dân lấy điều lễ-nghĩa, cho nên dân trong quận có nhiều người kính phục.

“Nhâm Diên thì sang làm thái-thú quận Cửu-chân từ năm Kiến-võ nhà Đông-Hán. Bấy giờ dân quận ấy chỉ làm nghề chài-lưới và săn-bắn, chứ không biết cày-cấy làm ruộng-nương. Nhâm Diên mới dạy dân dùng cày bừa mà khai-khẩn ruộng đất, bởi vậy chẳng bao lâu mà quận ấy có đủ thóc gạo ăn. Người ấy lại dạy dân làm lễ cươi hỏi trong khi lấy vợ lấy chồng, và bắt những lại-thuộc trong quận lấy một phần lương-bổng của mình mà giúp cho những kẻ nghèo đói để lấy vợ lấy chồng.

“Nhâm Diên ở Cửu-chân được 4 năm thì được thăng chức về Tàu đi làm quan chỗ khác. Dân-sự quận ấy ái-mộ Nhâm Diên, làm đền thờ…”(VNSL, trang 38. NXB Xuân Thu tái bản năm 1990)

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, vì bộ VNSL soạn hơn 80 năm trước, sử sách Trung hoa viết như thế nào thì cụ Trần Trọng Kim theo như thế. Trong khi các công trình khảo-cổ ngày nay đã chứng tỏ rằng các dân tộc tại Đông Nam Á là những dân tộc biết cày cấy gieo trồng giống lúa nước từ 4 hay 5 ngàn năm trước. Điều thứ hai mà chúng tôi thấy “trật đường rầy” là đoạn sử này nêu lên một sự kiện mỉa mai mà người viết sử (sử Trung hoa) tưởng rằng tốt đẹp! Đó là chi tiết “…bắt những lại-thuộc trong quận lấy một phần lương bổng của mình mà giúp cho những kẻ nghèo đói để lấy vợ lấy chồng”! Tưởng rằng ông Nhâm Diên đem của riêng mình hay đem công quỹ để giúp kẻ nghèo thì còn đỡ, đằng này ông bắt kẻ thuộc hạ nhịn ăn nhịn mặc để giúp người nghèo, còn chính bản thân ông thì vẫn ôm vàng bạc ngọc ngà của cải cho mình và dâng lên vua, thảo nào ông mau thăng quan tiến chức! Cũng may rằng đoạn sử này không mấy quan trọng trong toàn bộ mấy ngàn năm thăng trầm gian khổ của dân tộc Việt nam ta nên các thầy giáo thường không đề cập đến! Tuy thế, chúng tôi cũng đã từng nghe một nhà văn (vốn cũng là một nhà giáo) đem chi tiết lịch sử này giới thiệu với khán giả trontg một chương trình Đại Nhạc Hội. Tất nhiên với uy tín của một nhà văn có rất nhiều độc giả, đứng trước hàng ngàn khán giả để “tuyên dương” thì người nghe sẽ nhớ ơn các nhà cai trị của mẫu quốc lắm lắm!

Sau đây, chúng tôi xin trích cũng đoạn lịch sử ấy, do sử gia Trần Gia Phụng trích dẫn từ sách Hậu Hán thư của Phạm Việp, người Trung hoa, sống vào thế kỷ thứ 5, tức là mấy trăm năm sau khi hai ông Tích Quang và Nhâm Diên cai trị nước cổ Việt:

“Theo Hậu Hán thư (Hou Han Shu, sách về đời Hậu Hán, viết vào thế kỷ thứ 5) : “Tục Cửu Chân làm nghề săn bắn chứ không biết dùng bò để cày. Dân thường phải mua lúa Giao Chỉ mỗi lần bị thiếu thốn. {Nhâm}Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng, ruộng đất trù mật, mỗi năm một rộng thêm; trăm họ được đầy đủ. Dân Lạc Việt lại không có phép cưới hỏi, mọi người ưa dâm dật, không quen thói sống chung với nhau, nên không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng. Vì vậy Diên gởi thư đi các huyện thuộc quyền ông, truyền cho mọi người đàn ông từ 20 đến 50 tuổi, đàn bà từ 15 đến 40 tuổi, tất cả tuỳ theo tuổi tác mà cưới hỏi nhau…Trước kia trong thời Bình Đế có Tích Quang, người Hán Trung làm thái thú Giao Chỉ, lấy lễ-nghĩa dạy cho dân Man di ăn ở, tiếng giáo hoá cũng lừng lẫy như ông Diên…Đất Lĩnh Nam giữ phong tục Trung hoa bắt đầu từ hai vị thái thú đó…”(Việt sử đại cương tập I, trang 77. NXB Non Nước Toronto, 2004.)

Sau khi trích dẫn “công lao của hai vị quan cai trị mẫu quốc”, ông Trần Gia Phụng có mấy nhận xét như sau:

“ Thứ nhất, Hậu Hán thư cho rằng người Việt “không có phép cưới hỏi…không quen thói sống chung với nhau nên không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng”, nên Nhâm Diên dạy dân Việt cưới hỏi theo lễ giáo. Thật ra, những nhà đô hộ Trung hoa muốn áp đặt lễ nghi cưới hỏi Trung hoa để dân chúng cổ Việt phải vào hồ sơ hộ tịch địa phương khi thành hôn (mới được thừa nhận). Nhờ thế, mà nhà cầm quyền đô hộ nắm được tình hình an ninh, số hộ dân để dựa vào đó mà thu thuế. Đây là mục đích hàng đầu của chế độ đô hộ bóc lột.

“Thứ nhì, công việc “giáo hoá” lễ nghĩa của các thái thú, phổ biến Nho giáo, một triết thuyết hô hào tư tưởng “trung quân”, để dạy cho dân cổ Việt trung thành với nền quân chủ, tức trung thành với vua Trung hoa, và chấp nhận nền đô hộ của Trung hoa.

“Công việc giáo hoá của hai thái thú trên, nhất là việc áp dụng tục lệ cưới hỏi theo lễ nghi Trung hoa bị người Việt chống đối. … Một tờ trình của Tiết Tống (Hsueh Tsung) vào năm 231 gởi cho triều đình Đông Ngô thời Tam Quốc (213-280), cho biết rằng cho đến khi ông đến Giao Chỉ dưới thời Sĩ Nhiếp (thái thú 187- 226), tức là sau mấy trăm năm đô hộ, ảnh hưởng văn hoá Trung hoa không đúng theo như báo cáo trước đó; và người Giao Chỉ và Cửu Chân vẫn còn giữ tục lệ gia đình của họ. Điều này không lạ, vì cho đến thế kỷ thứ 15, quốc triều hình luật thời nhà Hậu Lê đã thừa nhận trong điều 40 rằng: “Người man liêu là người sắc tộc thiểu số và tuy có văn hoá khác với dân Việt, vẫn thuộc thành phần quốc dân Đại Việt Hơn nữa, cho đến ngày nay, tức 20 thế kỷ sau, vùng núi Việt nam vẫn còn nhiều bộ tộc theo mẫu hệ, chứ không theo phụ hệ như Trung hoa.

“Thứ ba, “Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng”. Dựa vào câu này, các sách xưa cho rằng chính Nhâm Diên dạy cho dân Việt biết cách dùng lưỡi cày bằng sắt (điền khí) để cày ruộng. Tuy nhiên, theo Giao Châu ngoại vực ký, (viết khoảng giữa đời Tấn [265-420], Trung hoa) thì: “Hồi xưa chưa có quận huyện, thì Lạc điền tuỳ theo thuỷ triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng gọi là Lạc dân, người cai quản dân gọi là Lạc vương, người phó là Lạc tướng, đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu… () . Người Trung hoa xưa ở vùng Hoàng hà trồng lúa mì và lúa mạch trên ruộng khô, làm sao giỏi kỹ thuật trồng lúa gạo ở ruộng nước hơn người Việt mà dạy người Việt? Ngược lại, trong sách Ancient China (1967), tác giả Edward H. Schafer viết rằng: “Thuật trồng lúa gạo và thuần hoá gia súc chắc chắn [Trung hoa]đã tiếp thu từ các sắc dân tầm thường ở miền nam xa xôi hẻo lánh [nam man].

“Theo những tài liệu mới được phát hiện, tại Mê linh (Vĩnh phúc, Phú thọ ngày nay) quận Giao Chỉ (châu thổ Hồng hà), người ta tìm thấy những bộ xương trâu đã có mặt tại đây khoảng 2.000 năm trước CN, và hai lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn (thế kỷ thứ 5 TCN đến thế kỷ thứ I SCN) dùng cho trâu cày. Như thế, dân Lạc Việt đã biết làm ruộng đã biết sử dụng điền khí trước khi người Trung hoa đến xâm lăng. Lúc đó dân Lạc Việt dùng lưỡi cày bằng đồng vì đồ đồng là nghề luyện kim chính của dân Lạc Việt (vốn nổi tiếng về trống đồng), và nhất là đồ sắt bị hạn chế, do việc bà Lữ Hậu nhà Hán đã ra lệnh cấm xuất cảng sắt xuống phía nam Trung hoa từ năm 183 TCN.

“Như thế, Nhâm Diên không phải là người khai tâm cho dân Việt dùng điền khí để cày cấy như Hậu Hán thư đã viết và các bộ sử khác chép theo. Một nghi vấn được đặt ra là phải chăng Nhâm Diên, thái thú Cửu Chân, tức là vùng châu thổ sông Mã, nơi có trung tâm trống đồng Đông sơn (Thanh hoá), chứng kiến dân chúng địa phương đã cày cấy bằng lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn, rồi báo cáo như trên để lập công với triều đình Trung hoa, như ông đã từng báo cáo không đúng sự thật về việc ông giáo hoá dân Việt, mà Tiết Tống trình cho nhà Đông Ngô năm 231?”(sđd, trang 78-80)

 

2.- Ở trên, chúng tôi đã trình bày lý do thứ nhất làm cho tài liệu của bộ VNSL không ghi nhận đúng sự thật: vì tài liệu dùng để tham khảo không trung thực. Tiếp theo, chúng tôi xin trình bày về trường hợp thứ hai, tài liệu tham khảo sai vì không có hoàn cảnh để cẩn án (Cẩn án vốn là một công đoạn rất cần thiết và rất quan trọng khi viết sư).

Trường hợp sau đây sẽ nói lên một cách cụ thể: Trong biến cố lịch sử viết về cuộc nổi dậy của hai bà Trưng giành độc lập cho dân tộc, tất cả các sách sử của Việt Nam có những điều đã viết sai sự thật! Thí dụ Việt nam sử lược” viết:

Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao-chỉ có lòng oán-hận lắm. Năm canh-tí (40) người ấy lại giết Thi Sách người ở quận Châu-diên (phủ Vĩnh- tường, trước thuộc về Sơn-tây, nay thuộc tỉnh Vĩnh-yên).

“Vợ Thi Sách là Trưng Trắc con gái quan Lạc tướng ở huyện Mê-linh (làng Hạ-lôi, huyện Yên-lãng, tỉnh Phúc-yên) cùng em gái là Trưng Nhị nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận Nam-hải.”(VNSL trang 39). Các chi tiết bị viết sai gồm có:

– Chồng của Bà Trưng Trắc tên THI chứ không phải tên SÁCH.

–                Bà Trưng cùng chồng và em gái đứng lên đánh đuổi Tô Định để giải phóng dân tộc trước chế độ cai trị khắc nghiệt và tham tàn của Tô Định, cũng là chủ trương thống trị của người Trung hoa. Chúng tôi muốn nhấn mạnh: Bà Trưng Trắc cùng chồng (là ông THI) và em gái đứng lên đánh đuổi Tô Định. Chồng bà Trưng Trắc (ông THI) không bị Tô Định giết.  Chúng tôi đã tìm đọc các sách sử như “Toàn thư”, “Cương mục”, “ĐạiViệt sử lược”, “Lịch sử dân tộc Việt nam” của Giáo sư Phạm Cao Dương v.v… đều viết chồng Bà Trưng Trắc là THI SÁCH, chỉ có sách “Đại Việt sử lược” không nói đến, còn nhiều sách khác đều viết “Tô Định giết ông THI SÁCH!”   

 

Sau đây, chúng tôi xin trích dẫn tài liệu của các tác giả Trung hoa về hai chi tiết nêu trên:

Sách “Thuỷ kinh chú” của Lịch Đạo Nguyên (thế kỷ thứ 6 sau CN), viết: “…Châu Diên Lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh Lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê.Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương THI khởi tặc; Mã Viện tương binh thảo, TRẮC THI tẩu nhập Cẩm Khê…” (nghĩa là …Con trai của Lạc tướng Châu Diên tên là Thi hỏi [sách] con gái Lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ (vi thê)…[Bà] Trắc là người can đảm, cùng [ông] Thi nổi dậy làm giặc; Mã Viện đem quân đánh [ông bà] Trắc Thi chạy vào Cẩm Khê…)

Sách “Hậu Hán thư”(chính sử của Trung hoa, viết vào thế kỷ thứ  5), Phạm    Việp viết: “Hựu Giao Chỉ nữ tử Trưng Trắc, cập nữ đệ Trưng Nhị phản công đầu kỳ quận. Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố man di giải ứng, khấu lược Lĩnh ngoại lục thập thành,Trắc tự lập vi vương.” (nghĩa là: Ở Giao Chỉ có người đàn bà tên Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị nổi lên làm loạn, đánh phá trong quận. Người man di ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đến hưởng ứng, cướp phá hơn 60 thành ở Lĩnh ngoại. Trắc tự xưng vương.”

Đọc hai trích dẫn trên, chúng ta thấy: “…tương THI khởi tặc, Mã Viện tương binh thảo, TRẮC THI nhập Cẩm Khê…” có hai chi tiết rõ ràng là ông THI cùng bà Trưng Trắc nổi dậy, tiếp theo tác giả “Thuỷ kinh chú” viết: “TRẮC THI , nếu chồng Bà Trưng Trắc tên là Thi Sách thì ông Lịch Đạo Nguyên phải viết là TRẮC SÁCH mới phải. Chúng tôi còn muốn nói thêm rằng ông Lịch Đạo Nguyên viết “Thuỷ kinh chú” vào thế kỷ thứ 6, nghĩa là chỉ sau biến cố lịch sử chừng 500 năm, và ông đã đi khắp nơi trong lãnh thổ nước Việt thời ấy để ghi chép về sông ngòi. Chắc khi đến linh sông Hát, ông đã được cổ nhân nước ta kể về chuyện Trưng vương.

Như thế, hai điểm sai lầm thật đã rõ ràng! Nhưng tại sao có hai lỗi lầm ấy? Cố Giáo sư, Linh mục Nguyễn Phương (giáo sư tại Đại học Sư phạm và Văn khoa Huế trong thời gian từ khi Viện Đại học Huế được thành lập cho đến năm 1975) chỉ cho chúng ta điều ấy.

Theo  Giáo sư Nguyễn Phương thì trong “Phụ lục” của “Hậu Hán thư” quyển 54, ông Huệ Đống (Hui Dong, 1697-1758), viết như sau:

Cứu Triệu Nhất Thanh viết “sách thê” do ngôn thú thê. Phạm sử tác: “Giá vi Châu Diên nhân Thi Sách thê”mậu hỉ. Án Thuỷ kinh chú ngôn “tương Thi”, ngôn “ Trắc Thi”, minh chỉ danh Thi.” (nghĩa là: “ Xét Triệu Nhất Thanh nói : “sách thê” còn có nghĩa là “cưới vợ”; các sử học Phạm chép “gả làm vợ người Châu Diên là Thi Sách” là sai. Xem “Thuỷ kinh chú” thấy nói “tương Thi” rồi nói “Trắc Thi”, chỉ rõ ràng tên ông đó là Thi.”)

Trong đoạn văn trích từ “Thuỷ kinh chú” chúng ta đọc câu:“Châu Diên Lạc tướng tử DANH THI sách Mê Linh Lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc vi thê.” Nếu chúng ta dịch rằng : “Con trai Lạc tướng Châu Diên tên là THI SÁCH con gái Lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ…” thì nghĩa của câu văn nghe không ổn. Thêm nữa, ở câu sau đó là “Trắc Thi tẩu nhập Cẩm Khê”. Nếu ông ấy họ Thi, tên Sách thì ông Lịch Đạo Nguyên phải viết là “Trắc Sách tẩu nhập Cẩm Khê.” Do đó mà ông Huệ Đống mới viết: “Phạm sử tác: “Giá vi Châu Diên nhân Thi Sách thê” mậu hỉ.” (các sử học Phạm chép “gả làm vợ người Châu Diên là Thi Sách” là sai).

Nhưng do từ đâu mà ông Triệu Nhất Thanh phải nói: “ “sách thê”do ngôn thú thê” và ông Huệ Đống phải nói “chỉ rõ ràng tên ông đó là THI”. Những sai lầm này làm cho các sử sách của chúng ta đều sai theo! Câu trả lời có vẻ dài dòng, đây là chuyện “bên Tàu”, nó diễn ra như sau:

“Thái tử Lý Hiền, con vua Đường Cao Tông (trị vì 650-683). Sau khi vua Đường Cao Tông từ trần. Lư Lăng Vương lên ngôi tức Đường Trung Tông (trị vì 684). Ngay từ  684, bà Võ hậu ( Võ Tắc Thiên) chuyên quyền, cất chức Trung Tông, lập Đường Duệ Tông (trị vì 684-690) lên ngôi. Sau đó Võ hậu tự mình lên làm vua tức Võ Tắc Thiên (trị vì 690-709). Võ Tắc Thiên đày các hoàng thân nhà Đường đi xa. Thái-tử Hiền nằm trong số nầy. Trong thời gian bị  lưu đày, ông đã chú thích bộ Hậu Hán thư.” (Trần Gia Phụng, sđd trang 103).

Trong khi chú thích “Hậu Hán thư”, Thái tử Hiền dựa vào câu văn của “Thuỷ kinh chú” :“Châu Diên Lạc tướng tử  danh Thi sách Mê Linh Lạc tướng nữ tử dang  Trưng Trắc vi thê rồi viết lời chú rằng: “Trưng Trắc giả, Mê Linh huyện Lạc tướng chi nữ dã, giá vi Châu Diên nhân THI SÁCH thê, thậm hùng dũng. ” (nghĩa là: Trưng Trắc, con gái của Lạc tướng Mê Linh, kết hôn với người Châu Diên {là} Thi Sách, rất hùng dũng.)  Có lẽ “câu chú” của Thái-tử Hiền có bùa nên các tác giả của “An nam Đô hộ phủ” bị mê  “bùa chú” của ngài Thái-tử nhà Đường và cứ theo đó mà viết vào sử sách của nước ta từ thế kỷ thứ 13, 14 đến thế kỷ thứ 20 (!), mặc dù các ông Triệu Nhất Thanh và Huệ Đống đã đính chính từ thế kỷ thứ 18! Nói một cách nghiêm chỉnh là các sử gia của chúng ta quá ngưỡng mộ sách vở của Trung hoa nên không cẩn án.(Chúng tôi đọc bản dịch của  “Toàn thư” {thế kỷ thứ 15}, không hề thấy ghi chú về cẩn án. Đến bộ “Cương mục” mới thấy ghi một số chi tiết cẩn án.) Đó chỉ mới là sai lầm thứ nhất về tên của chồng của Bà Trưng Trắc. Sau đây, chúng ta tìm hiểu tại sao các sử của Trung hoa không ghi việc Tô Định giết ông THI trong khi “Toàn thư” , “Cương mục”, “Việt nam sử lược” và một số sử sách khác lại ghi điều này?

-“Toàn thư ”, Ngoại kỷ, quyển III,   kỷ Trưng Vương:

“…lại thù Định giết chồng mình, mới cùng em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu.”(trang 156, bản dịch của NXB Khoa học Xã hội. 1998).

-“Cương mục”, Tiền biên, Quyển t    thứ II:

“Lúc bấy giờ thái thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo, giết mất chồng bà.”(trang 114, bản dịch của NXB Giáo dục. 1998).

-“Lịch sử  Dân tộc Việt nam” của giáo-sư Phạm Cao Dương:

“…sau đó lại giết Thi Sách, người huyện Châu Diên, là chồng bà Trưng Trắc,…”(sđd trang 86, NXB Truyền thống Việt, 1987).

-“Việt điện U linh tập” của Lý Tế-Xuyên:

“Thi Sách là người có dũng-lực, trọng hào-khí, tiếng đồn như gió, bị Thứ-Sử Tô-Định thiết-kế hãm hại.”(trang 59. bản dịch của Lê-Hữu-Mục. Khai-Trí xuất-bản. 1960).

 

Trong số tám bộ sử, sách mà chúng tôi tham khảo để viết bài này, thì chỉ có ba văn bản không ghi việc Tô Định giết chồng Bà Trưng là “Đại Việt sử lược”, “Việt sử đại cương” và “Lĩnh Nam chích quái”. Tìm lý do về sử sự này, chúng tôi chỉ thấy sử gia Trần Gia Phụng nêu lên như sau: “Về việc vì sao chồng Bà Trưng bị khai tử trong khi ông vẫn còn sống cùng vợ khởi nghĩa, một tài liệu mới là sách The Birth of Vietnam {Việt nam khai sinh}, cho rằng do thành kiến trọng nam, các nhà viết sử Việt  của những thế kỷ sau thời Hai Bà Trưng không thể chấp nhận chuyện một người phụ nữ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và trở thành vua, trong khi ông chồng vẫn còn sống, nên họ viết rằng Tô Định đã giết chồng Bà Trưng.”(Việt sử đại cương, trang 85. NXB Non nước Toronto. 2004)

                                

*

 Chúng tôi chỉ nêu ra hai chỗ sai lầm trên để làm ví dụ cụ thể. Thật ra, các sách sử cũ còn có khá nhiều vấn đề cần cẩn án, hơn nữa có lẽ còn nhiều phát hiện khác về lịch sử của dân tộc Việt nam.  Những sai lầm trong sử sách của chúng ta không phải chỉ nói riêng bộ “Việt nam sử lược” của cụ Trần Trọng Kim, mà là sai lầm của hầu hết của các bộ sử và các sách có liên quan đến Việt sử nói chung. Giáo sư Phạm Cao Dương, dạy sử mấy mươi năm ở các Đại học tại miền Nam và ở hải ngoại cũng phải sai lầm ở sử liệu Hai Bà Trưng, sử gia Trần Gia Phụng tốt nghiệp Đại-học sư phạm khoa sử, dạy sử hàng chục năm tại quê nhà, ra hải-ngoại biên soạn hàng chục tác phẩm về sử và đã xuất bản 2 cuốn “Việt sử đại-cương” I và II, cũng có vài sai lầm nhỏ. Lý do của sự sai lầm là vì thiếu tài liệu hoặc vì quá tin vào các tài liệu tham khảo nên không để ý đến vấn đề cẩn án!

Khi chúng tôi nêu vấn đề cần có một bộ Việt sử  mới cũng cần ngắn gọn như bộ “Việt nam sử lược” của cụ Trần Trọng Kim, không phải vì bộ VNSL có sai lầm mà vì cần có phần tiếp nối của lịch sử Việt nam, cần hiệu chính những sai lầm vì các lý do chúng tôi đã nêu ra ở trên. Riêng đối với cụ Trần Trọng Kim, chúng tôi hết lòng kính trọng và biết ơn. Kính trọng vì cụ là một học giả uyên bác, đã để lại nhiều công trình biên khảo rất cẩn trọng, lại là một chính khách cao quí trong giai đoạn rất khó khăn của lịch sử đất nước vào các năm 1945 và 1953; biết ơn vì nhờ những công trình biên-khảo của cụ mà chúng tôi có được một ít vốn liếng chữ nghĩa trong cuộc đời luôn luôn tìm tòi học hỏi của mình.

 

Để kết luận bài viết này, chúng tôi nêu lên nguyện vọng là sớm có một bộ THÔNG SỬ VIỆT NAM NGẮN GỌN như bộ “Việt nam sử lược” của cụ Trần Trọng Kim để cho các nhà giáo và các vị hữu tâm vẫn canh cánh bên lòng đối với các thế hệ nối tiếp, nhất là đối với thế hệ trẻ lớn lên tại hải ngoại hay được sinh ra và lớn lên tại hải ngoại. Chắc quí vị cũng nghĩ như chúng tôi, nghĩ rằng một ngày nào đó, có những người thanh niên hay trung niên đã thành tài, đã có địa vị, có tư thế vững vàng trong xã hội tại các nước văn minh tiên tiến như Anh, Pháp, Mỹ, Nga… bỗng một buổi chiều buồn nào đó, đứng trước gương, thấy tóc mình đen, da mình vàng, không mắt xanh, không mũi lõ rồi tự hỏi:

     Mình là ai? Tại sao mình ở nơi đây?

Câu hỏi ấy có đôi lần đã đến với những người da đen bên nước HIỆP CHỦNG QUỐC, và họ đã phải lặng lội, (vâng, chúng tôi dùng chữ lặng lội theo nghĩa đen và nghĩa bóng vì họ đã phải vượt trùng dương lận!), qua tận châu Phi để tìm kiến nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên…

Tôi tưởng rằng tổ tiên họ không có những ngày chống ngoại xâm, đánh đuổi quân xâm lăng đầy gian khổ và hào hùng như tổ tiên chúng ta; cũng không có một sức đề kháng lâu bền khi chống lại ý đồ đồng hoá của ngoại bang như tổ tiên chúng ta để cho bản đồ của dân tộc Việt nam còn lại đến ngày hôm nay. Trong bao nhiêu tộc Việt ở phía nam sông Dương tử, hiện chỉ còn một mảnh đất hình chữ S nhỏ nhoi này là còn giữ được tên nước, nước VIỆT NAM.

Những lời sau cùng là chúng tôi xin mượn lời của Giáo-sư Phạm Cao Dương, khi ông mở đầu bộ sử “Lịch sử dân tộc Việt Nam” như sau:

“Dù sống tản mát ở bất cứ phương trời nào, trong bất cứ quốc gia nào hay ở chính quốc, người Việt nam đều thuộc về một dân tộc thuần nhất, có chung một nguồn gốc, một quá khứ và một ước vọng chung về một ngày mai huy hoàng và tươi đẹp.”

 (Lịch sử Dân tộc Việt nam. Quyển I: Thời Kỳ Lập Quốc . Truyền Thống Việt. 1987)

Xin cám ơn Giáo sư Phạm Cao Dương.

MINH NGUYÊN

Sydney, ngày 15-08-2007